💻 Phần mềm phong thuỷ · Phong Thuỷ Liên HoaPhần mềm phong thuỷ Vũ Giới Hợp LuậnLa kinh số · Bảng luận · Tính năng · Kho kiến thức — dùng ngay trên trình duyệt💻 Mở phần mềm Hợp Luận

Tả Ao: giai thoại địa lý Hồng Lĩnh và những gì còn lại ở Nghi Xuân

Thầy Vũ Giới — Phong Thuỷ Liên Hoa

Minh hoạ Tả Ao: giai thoại địa lý Hồng Lĩnh và những gì còn lại ở Nghi Xuân

Nhắc đến phong thuỷ Việt Nam, không ai không biết Tả Ao – vị “Thánh địa lý” mà dân gian kể có thể nhìn núi biết người, nhìn đất biết vận. Trên vugioi.com đã có bài giới thiệu chung Thánh Tả Ao – phong thuỷ địa lý Việt Nam. Bài này đi theo một hướng khác: đọc kỹ từng giai thoại tiêu biểu, đối chiếu với tư liệu hiện có, và phân tích chúng như những bài học Hình Pháp.

Điều đầu tiên cần nói thẳng: hầu hết những gì ta biết về Tả Ao là truyền thuyết. Sử gia thời Lê – Nguyễn không chép tiểu sử ông; tên thật, năm sinh, năm mất đều có nhiều thuyết. Nhưng chính vì vậy, Tả Ao là một trường hợp tuyệt vời để học cách đọc di sản dân gian: không phủ nhận, không thần thánh hoá, mà tìm ra trong đó tri thức địa lý thật của người Việt.

Bài thuộc loạt Tổ Sư Phong Thuỷ của Phong Thuỷ Liên Hoa.

Tả Ao là ai: những điều còn chưa chắc

Tên “Tả Ao” vốn là tên làng – làng Tả Ao, xưa thuộc phủ Đức Quang, trấn Nghệ An, nay thuộc xã Xuân Giang, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. Về tên thật, dân gian thường gọi ông là Nguyễn Đức Huyền, có nơi gọi Vũ Đức Huyền; trong khi “Lịch triều hiến chương loại chí” của Phan Huy Chú lại ghi một thầy địa lý tên Hoàng Chiêm (hoặc Hoàng Chỉ), và có ý kiến cho rằng Tả Ao là tên hiệu của người này.

Sông La đoạn qua Đức Thọ, Hà Tĩnh – vùng sông nước quê Tả Ao
Sông La đoạn qua Đức Thọ, Hà Tĩnh – dòng sông hợp lưu với sông Lam chảy về vùng Nghi Xuân, quê Tả Ao. Ảnh: Nguyễn Đông Sơn – Wikimedia Commons, CC BY-SA 3.0

Về thời đại, có thuyết đặt ông vào thời Lê sơ (thế kỷ XV), có thuyết đặt vào cuối thế kỷ XVII. Chưa có tư liệu đủ mạnh để khẳng định. Vì vậy, trong bài này, chúng tôi dùng cách gọi “Tả Ao” và tránh nêu năm sinh – năm mất cụ thể.

Nội dungMức độ tư liệu
Quê làng Tả Ao (nay xã Xuân Giang, Nghi Xuân, Hà Tĩnh)Truyền thống thống nhất, được địa phương ghi nhận
Tên thật Nguyễn Đức HuyềnDân gian; có thuyết khác (Vũ Đức Huyền, Hoàng Chiêm)
Thời đại: Lê sơ hay cuối thế kỷ XVIIChưa xác định
Các sách Hán Nôm mang tên Tả Ao (chân truyền, di thư, địa lý…)Văn bản có thật, tác giả là đề danh
Các giai thoại học nghề, táng cha, đấu Cao BiềnTruyền thuyết

Giai thoại học nghề: cây kim và đồng tiền

Truyện kể Tả Ao thuở trẻ sang phương Bắc, nhờ chữa bệnh mắt (có bản nói phục dịch tận tình) cho một thầy địa lý mà được truyền nghề. Để thử trò, thầy giấu những đồng tiền dưới cát rồi bảo ông cắm kim tìm lỗ vuông giữa đồng tiền; ông cắm trúng gần hết. Thầy biết trò đã giỏi, lo ông mang tài về nước, nên có dị bản kể thầy tìm cách làm mờ mắt ông.

Đọc bằng con mắt Hình Pháp, cây kim và đồng tiền là hình ảnh tuyệt đẹp về điểm huyệt. Huyệt không phải một vùng rộng, mà là một điểm nhỏ trong vùng tụ khí; lệch một chút là “ra ngoài lỗ tiền”. Đây chính là điều các sách tầm long nhắc mãi: tìm được long đã khó, điểm đúng huyệt còn khó hơn. Bài Tầm long: phép điểm huyệt và bốn dạng huyệt trình bày cụ thể bốn dạng oa, kiềm, nhũ, đột để tập con mắt “cắm kim”.

Hồng Lĩnh và thế “Cửu long tranh châu”

Giai thoại nổi tiếng nhất gắn Tả Ao với núi Hồng Lĩnh – dãy núi mà dân gian quen gọi “Hồng Sơn chín mươi chín ngọn”, chạy giữa Nghi Xuân, Can Lộc và thị xã Hồng Lĩnh ngày nay. Truyện kể ông tìm được trên dãy núi này một huyệt thế “Cửu long tranh châu” (chín rồng tranh ngọc) để táng cha; về sau nhà Minh sang nước ta, cho người tìm phá các thế đất lớn.

Núi Hồng Lĩnh nhìn từ Can Lộc – giai thoại Tả Ao táng cha
Dãy Hồng Lĩnh nhìn từ Can Lộc, Hà Tĩnh – nơi truyền thuyết kể Tả Ao táng cha. Ảnh: ASM (vi.wikipedia) – Wikimedia Commons, CC BY-SA 3.0

Ta không thể kiểm chứng ngôi mộ ấy. Nhưng có thể đọc hình ảnh “chín rồng tranh ngọc” theo Hình Pháp. Đó là mô tả một cấu trúc: nhiều nhánh núi (long) cùng chầu về một điểm (châu – huyệt hoặc một gò tròn ở giữa), tạo thành vòng bao kín. Khi nhiều mạch cùng hướng về một tâm, khí được dồn và giữ lại – “tụ” – đúng như Táng Thư nói. Dãy Hồng Lĩnh với hàng chục ngọn nối nhau, nhiều khe thung ăn sâu vào trong là địa hình dễ khiến người xưa hình dung những thế như vậy.

Đọc Hồng Lĩnh theo long – huyệt – sa – thuỷ

  • Long: dãy Hồng Lĩnh là một khối núi độc lập giữa đồng bằng ven biển, nhiều đỉnh, nhiều nhánh toả xuống.
  • Thuỷ: phía bắc có sông Lam, phía tây có sông La hợp lưu, phía đông là biển – núi được nước bao nhiều mặt.
  • Sa: các nhánh núi phụ ôm lấy những thung lũng nhỏ, tạo nhiều “minh đường” kín đáo.
  • Huyệt: theo nguyên lý, huyệt tốt nằm ở chân nhánh núi nơi đất chuyển sang bằng, có khe nước ôm và ruộng thấp phía trước – không phải trên đỉnh cao.
Dãy núi Hồng Lĩnh nhiều đỉnh – thế đất trong giai thoại Tả Ao
Dãy núi Hồng Lĩnh với nhiều đỉnh nối nhau – “Hồng Sơn chín mươi chín ngọn” trong lời dân gian. Ảnh: Tuitentai27 – Wikimedia Commons, CC BY-SA 4.0

Vùng đất dưới chân Hồng Lĩnh – Nghi Xuân, Can Lộc, Đức Thọ – từ lâu nổi tiếng hiếu học, sản sinh nhiều nhà khoa bảng, văn nhân. Dân gian thích gắn điều đó với “đất Hồng Lĩnh”. Phong Thuỷ Liên Hoa nhìn nhận một cách cân bằng: địa hình đẹp, đất đai trù phú tạo điều kiện; nhưng truyền thống gia đình, giáo dục, nỗ lực con người mới là nguyên nhân chính.

“Nhất Thi nhì Hới” và các giai thoại chọn đất cho làng

Ở Hưng Yên lưu truyền câu “Nhất Thi nhì Hới”, được dân gian giải thích là gắn với việc Tả Ao chọn đất, giúp hai làng ấy hưng thịnh, đỗ đạt. Tại thôn Nam Trì, xã Đặng Lễ, huyện Ân Thi (Hưng Yên) có đền thờ Tả Ao cùng một số nhân vật khác (trong đó, thú vị thay, có cả Cao Biền); theo thần tích địa phương, dân làng tôn ông làm Thành hoàng.

Các giai thoại kiểu này cho thấy hình ảnh Tả Ao không chỉ là người chọn mộ, mà còn là người quy hoạch làng: chọn chỗ đặt đình, chùa, giếng, hướng đường làng. Đây là một đóng góp quan trọng của tri thức địa lý dân gian Việt: làng quê đồng bằng Bắc Bộ với lũy tre bao quanh (sa), ao làng phía trước (minh đường – thuỷ tụ), đình làng ở vị trí trung tâm hướng ra cánh đồng – đó chính là Hình Pháp áp dụng cho cả một cộng đồng.

Giai thoại cuối đời và ngôi “Huyết thực”

Truyện kể khi sắp mất, Tả Ao muốn được đưa đến một huyệt quý (dân gian gọi là thế “Nhất khuyển trục quần dương” – một chó đuổi bầy dê) nhưng không kịp; con cháu bèn táng ông vào một ngôi đất khác, được gọi là “ngôi Huyết thực” – đất được hưởng hương khói đời đời. Ngôi mộ thật của Tả Ao đến nay chưa được xác nhận; “ngôi Huyết thực” chỉ có trong truyền thuyết.

La kinh cổ – dụng cụ của nghề địa lý thời Tả Ao
La kinh cổ Trung Hoa trong Bảo tàng Trung Ural (Nga). Ảnh: Aleksandr Sigachev – Wikimedia Commons, CC0

Ý nghĩa của giai thoại này vượt khỏi phong thuỷ: người thầy địa lý giỏi nhất cũng không chọn được nơi an nghỉ cho mình theo ý muốn. Nó nhắc người làm nghề khiêm tốn trước thời và vận, và nhắc gia chủ rằng không có “huyệt tuyệt đối” nào để chạy theo bằng mọi giá.

Di sản sách vở: Địa đạo diễn ca và các bản chân truyền

Viện Nghiên cứu Hán Nôm lưu giữ nhiều sách mang tên Tả Ao với các nhan đề như Tả Ao chân truyền di thư, Tả Ao tiên sinh địa lý, Tả Ao chân truyền địa lý… Ngoài ra còn hai tác phẩm thường được nhắc: Địa đạo diễn ca (văn vần, dễ thuộc) và Dã đàm hay Tầm long gia truyền bảo đàm (văn xuôi). Ngày nay trên thị trường có rất nhiều bản in mang tên Tả Ao, chất lượng rất khác nhau.

Đọc các sách này, người học nhận ra cấu trúc rất gần với Hình Pháp Trung Hoa (long – huyệt – sa – thuỷ, cửu tinh), nhưng được diễn đạt bằng tiếng Việt văn vần, với ví dụ là địa hình Việt Nam: gò đống đồng bằng, sông ngòi chằng chịt, làng quê bao tre. Đây là đóng góp lớn: Việt hoá tri thức địa lý để người không đọc chữ Hán cũng học được.

Giai thoại Tả AoBài học Hình Pháp Liên Hoa
Cắm kim trúng lỗ đồng tiềnĐiểm huyệt đòi hỏi độ chính xác; vùng tụ khí khác điểm huyệt
Cửu long tranh châu trên Hồng LĩnhNhiều mạch cùng chầu về một tâm thì khí tụ
Chọn đất cho làng, “Nhất Thi nhì Hới”Phong thuỷ làng xã: lũy tre, ao làng, đình hướng đồng
Không kịp về huyệt quý, táng ngôi Huyết thựcKhiêm tốn trước thời vận; không chạy theo “huyệt tuyệt đối”
Đấu trí với Cao BiềnTruyền thuyết khẳng định tự chủ tri thức; không có cơ sở niên đại

Tả Ao trong mạch các tổ sư

So với các tổ sư Trung Hoa trong loạt bài – Quách Phác, Dương Quân Tùng, Tưởng Đại Hồng – Tả Ao có ít tư liệu sử học nhất nhưng ảnh hưởng văn hoá sâu rộng nhất với người Việt. Ông là biểu tượng cho việc người Việt tiếp nhận, Việt hoá và tự tin vào tri thức địa lý của mình. Đọc ông theo tinh thần Hình Pháp Liên Hoa là giữ lấy phần phương pháp và đạo đức, để lại phần kỳ ảo cho văn hoá dân gian. Bài tiếp theo của loạt sẽ bàn về một văn bản có thật hoàn toàn: “Chiếu dời đô” của Lý Công Uẩn.

Công cụ Liên Hoa dùng kèm bài này

Bài liên quan

Học bài bản cùng Thầy Vũ Giới

Muốn đi từ giai thoại Tả Ao đến kỹ năng tầm long, điểm huyệt thực sự, có thể tham khảo Khoá học cao cấp Phong Thuỷ Sư Liên Hoa. Thông tin lớp và ghi danh: Zalo 0988 964 636 (Thầy Vũ Giới, TP.HCM).

Câu hỏi thường gặp

Quê Tả Ao ở đâu?

Theo truyền thống, ông quê làng Tả Ao, xưa thuộc phủ Đức Quang, trấn Nghệ An, nay thuộc xã Xuân Giang, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. “Tả Ao” chính là tên làng được dùng làm tên gọi ông.

Tả Ao sống vào thời nào?

Chưa xác định. Có thuyết cho là thời Lê sơ (thế kỷ XV), có thuyết cho là cuối thế kỷ XVII. Sử chính thống không chép tiểu sử ông.

Có đền thờ hay mộ Tả Ao không?

Tại thôn Nam Trì, xã Đặng Lễ, huyện Ân Thi, Hưng Yên có đền thờ Tả Ao cùng một số nhân vật khác. Mộ phần của ông chưa được xác nhận; “ngôi Huyết thực” chỉ có trong truyền thuyết.

Sách Tả Ao bán ngoài thị trường có đáng tin không?

Nhiều bản in hiện đại là biên soạn lại, chất lượng khác nhau. Nên ưu tiên các bản có nguồn từ văn bản Hán Nôm, có chú thích rõ, và đọc kèm người hướng dẫn để tránh hiểu sai thuật ngữ.

Từ khoá: tả ao · thánh tả ao · nguyễn đức huyền · địa lý tả ao · giai thoại tả ao · hồng lĩnh · tổ sư phong thủy việt nam

Bài viết liên quan

Có thể quý vị quan tâm

Đi tiếp

Khoá học liên quan, app áp dụng, bài học thuật cùng chủ đề và quà tài liệu.

Bình luận

để gửi bình luận.

  • Đang tải bình luận…