💻 Phần mềm phong thuỷ · Phong Thuỷ Liên HoaPhần mềm phong thuỷ Vũ Giới Hợp LuậnLa kinh số · Bảng luận · Tính năng · Kho kiến thức — dùng ngay trên trình duyệt💻 Mở phần mềm Hợp Luận

Đạo giáo ở Việt Nam: Quán Thánh, Đạo Mẫu và đàn cúng

Thầy Vũ Giới — Phong Thuỷ Liên Hoa

Minh hoạ Đạo giáo ở Việt Nam: Quán Thánh, Đạo Mẫu và đàn cúng

Trả lời nhanh: Đạo giáo ở Việt Nam có mặt từ thời Bắc thuộc, hoà với Phật giáo, Nho giáo và tín ngưỡng bản địa. Dấu ấn rõ nhất là đền Quán Thánh thờ Huyền Thiên Trấn Vũ (tượng đồng đen đúc năm 1677), đền Ngọc Sơn thờ Văn Xương, hệ thần linh trong tín ngưỡng thờ Mẫu, nghi lễ Then, Tào, cấp sắc của các dân tộc miền núi và các đàn cúng dân gian.

Người Việt ít khi tự nhận mình "theo Đạo giáo", nhưng Đạo giáo lại có mặt khắp nơi trong đời sống tâm linh Việt: trong câu "Nam Tào Bắc Đẩu", trong tranh Ngọc Hoàng trên điện thờ Mẫu, trong tục cúng sao giải hạn, trong lễ Thượng Nguyên, Trung Nguyên, Hạ Nguyên, trong pho tượng Trấn Vũ ở Hồ Tây hay đền thờ Văn Xương trên hồ Hoàn Kiếm. Đạo giáo ở Việt Nam không tồn tại như một giáo hội riêng biệt rõ nét, mà như những sợi chỉ đan vào tấm vải tín ngưỡng chung.

Bài này thuộc nhóm "Đàn Cúng Đạo Giáo" trong cụm Trận Pháp Tâm Linh của Phong Thuỷ Liên Hoa. Chúng ta sẽ lược qua lịch sử Đạo giáo ở Việt Nam, giới thiệu những di tích tiêu biểu, ảnh hưởng của Đạo giáo trong tín ngưỡng thờ Mẫu và các nghi lễ dân tộc thiểu số, các hình thức "đàn cúng" dân gian, và quan điểm của Liên Hoa về việc phân biệt văn hoá tín ngưỡng với các dịch vụ mê tín. Bài trình bày dưới góc nhìn văn hoá – lịch sử, không hướng dẫn bùa chú hay trấn yểm.

Lịch sử: Đạo giáo đến và hoà vào đất Việt

Đạo giáo có mặt ở vùng đất Việt từ khá sớm, trong thời kỳ Bắc thuộc. Sách Lý hoặc luận của Mâu Tử – người sống ở Giao Chỉ cuối thời Hán – đã bàn về Phật, Lão, Nho, cho thấy các luồng tư tưởng này đã cùng hiện diện ở vùng đất này từ thế kỷ II – III. Thời Đường, Giao Châu có các đạo quán, và nhiều truyền thuyết về đạo sĩ, pháp sư phương Bắc xuất hiện – trong đó nổi tiếng nhất là các truyền thuyết về Cao Biền "trấn yểm long mạch", vốn là truyện kể dân gian hơn là sử liệu; bài về truyền thuyết Cao Biền trong chuyên mục Tổ Sư Phong Thuỷ trên web Liên Hoa đã phân tích.

Dưới các triều Lý – Trần, tư tưởng "tam giáo đồng nguyên" (Phật – Đạo – Nho cùng gốc) rất phổ biến. Triều đình có đạo sĩ, có đạo quán do nhà nước bảo trợ; sử chép cuối thế kỷ XII triều Lý tổ chức kỳ thi về tam giáo. Nhiều vị vua, quan đời Lý – Trần vừa sùng Phật vừa trọng Đạo. Sang thời Lê – Nguyễn, Nho giáo chiếm ưu thế trong triều chính, nhưng Đạo giáo vẫn sống trong dân gian, trong các đền quán và nghi lễ cộng đồng.

Đặc điểm nổi bật của Đạo giáo ở Việt Nam là tính dung hợp: các vị thần Đạo giáo được thờ cùng thần bản địa, anh hùng dân tộc, Phật, Mẫu. Không có một "Thiên Sư phủ" Việt Nam, không có hệ thống đạo sĩ xuất gia quy mô lớn như ở Trung Hoa; thay vào đó là các thủ từ, thầy cúng, ông đồng bà đồng, thầy Tào, thầy Mo – những người giữ nghi lễ trong cộng đồng.

Phủ Tây Hồ, Hà Nội – nơi thờ Mẫu Liễu Hạnh
Phủ Tây Hồ, Hà Nội – nơi thờ Mẫu Liễu Hạnh. Ảnh: Vuong Tri Binh, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons

Đến thế kỷ XX, đạo Cao Đài ra đời ở Nam Bộ (năm 1926) với chủ trương quy nguyên tam giáo, có nhiều yếu tố Đạo giáo trong giáo lý và nghi lễ. Đây là một tôn giáo độc lập, có giáo hội riêng, nhưng cho thấy sức sống của tư tưởng tam giáo trong văn hoá Việt.

Đền Quán Thánh và các di tích mang dấu ấn Đạo giáo

Đền Quán Thánh (Trấn Vũ quán) nằm bên Hồ Tây, ở góc đường Thanh Niên – Quán Thánh, Hà Nội, là di tích Đạo giáo tiêu biểu nhất. Đền thờ Huyền Thiên Trấn Vũ – tức Chân Võ, vị thần phương Bắc. Tương truyền đền có từ thời Lý; trong hệ "Thăng Long tứ trấn", Quán Thánh trấn giữ phương Bắc, cùng đền Bạch Mã (phía Đông), đền Voi Phục (phía Tây), đền Kim Liên (phía Nam). Bài Thăng Long tứ trấn trên web Liên Hoa đã phân tích vị trí bốn đền theo phong thuỷ kinh thành.

Trong đền có pho tượng Huyền Thiên Trấn Vũ bằng đồng đen đúc năm 1677, đời vua Lê Hy Tông, cao khoảng 3,96 m, nặng khoảng 3,6 – 4 tấn theo các nguồn khác nhau. Tượng ngồi, chân đạp rùa, tay chống kiếm có rắn quấn – đúng hình tượng Chân Võ chế ngự rùa rắn phương Bắc. Đây là một kiệt tác đúc đồng của nghệ nhân Việt, thường được nhắc đến cùng làng đúc đồng Ngũ Xã gần đó.

Tượng Huyền Thiên Trấn Vũ bằng đồng đen ở đền Quán Thánh
Tượng Huyền Thiên Trấn Vũ bằng đồng đen ở đền Quán Thánh. Ảnh: ndoduc, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons
Di tíchVị tríThần chính có gốc Đạo giáoGhi chú
Đền Quán ThánhHồ Tây, Hà NộiHuyền Thiên Trấn VũTrấn Bắc trong Thăng Long tứ trấn; tượng đồng đen 1677
Đền Ngọc SơnHồ Hoàn Kiếm, Hà NộiVăn Xương Đế Quân (thần văn học, khoa cử)Cùng thờ Đức Thánh Trần; gắn với Tháp Bút, Đài Nghiên
Quán Bích CâuHà NộiGắn truyền thuyết Tú Uyên – Giáng KiềuĐạo quán dân gian, truyện kỳ ngộ tiên nữ
Các hội quán người HoaHội An, Chợ LớnQuan Thánh, Thiên HậuTín ngưỡng dân gian Hoa có ảnh hưởng Đạo giáo

Đền Ngọc Sơn là ví dụ đẹp về sự dung hợp: thờ Văn Xương Đế Quân – vị thần Đạo giáo coi về văn chương thi cử – cùng với Đức Thánh Trần Hưng Đạo, anh hùng dân tộc được thần hoá. Trước đền có Tháp Bút, Đài Nghiên, cầu Thê Húc – một tổ hợp mang biểu tượng văn học rất rõ.

Vì sao Trấn Vũ ở phía Bắc, bên Hồ Tây: đọc bằng Hình Pháp

Việc đặt đền thờ thần phương Bắc ở phía bắc kinh thành, sát bờ Hồ Tây, không phải ngẫu nhiên. Trong ngũ hành, phương Bắc thuộc Thuỷ, màu đen, linh vật Huyền Vũ (rùa – rắn) – những sinh vật gắn với nước. Hồ Tây, mặt nước lớn nhất nội đô, nằm ở phía tây bắc của trung tâm Thăng Long; đặt vị thần Thuỷ – phương Bắc bên mặt nước lớn ấy là một sự tương ứng biểu tượng rất "đúng bài".

Nhìn bằng Hình Pháp Liên Hoa, có thêm những lý do thực tế. Phía bắc kinh thành là hướng gió mùa đông bắc lạnh tràn về, cũng là hướng mà các triều đại phương Bắc thường tiến xuống – "phương Bắc" vừa là thời tiết vừa là địa chính trị. Một công trình tâm linh lớn ở cửa ngõ ấy mang ý nghĩa "trấn giữ" về mặt tinh thần cho cư dân kinh thành. Hồ Tây và hệ thống hồ, sông quanh Thăng Long còn là "thuỷ" điều hoà khí hậu, nơi tụ thuỷ của cả vùng – bài Thuỷ hệ Thăng Long: Hồ Tây, Hồ Gươm, sông Tô Lịch trên web Liên Hoa đã phân tích chi tiết.

Hệ "tứ trấn" của Thăng Long vì thế vừa là hệ thống tín ngưỡng, vừa là một cách đánh dấu không gian kinh thành theo bốn phương – giống như bốn cửa của đàn tràng Đạo giáo, hay bốn linh vật Thanh Long, Bạch Hổ, Chu Tước, Huyền Vũ bao quanh một cuộc đất. Đây là ví dụ tiêu biểu cho cách tư duy phong thuỷ và tư duy tôn giáo gặp nhau trong quy hoạch đô thị cổ. Liên Hoa nhắc lại: "trấn" ở đây là ý nghĩa biểu tượng và tinh thần cộng đồng, không phải phép trấn yểm.

Đạo giáo trong tín ngưỡng thờ Mẫu và nghi lễ các dân tộc

Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt đã được UNESCO ghi danh là Di sản văn hoá phi vật thể đại diện của nhân loại năm 2016. Đây là tín ngưỡng bản địa, tôn vinh Thánh Mẫu – trong đó Mẫu Liễu Hạnh là vị nổi tiếng nhất. Nhưng trên điện thờ Mẫu, ở vị trí cao nhất thường có Ngọc Hoàng Thượng Đế, hai bên có Nam Tào, Bắc Đẩu – những vị thần mượn từ hệ Đạo giáo. Hệ thống "phủ" (Thiên phủ, Địa phủ, Thoải phủ, Nhạc phủ) cũng có dáng dấp của cách tổ chức "triều đình thần linh" trong Đạo giáo.

Đền Ngọc Sơn, Hà Nội
Đền Ngọc Sơn, Hà Nội. Ảnh: Jakub Hałun, CC BY 4.0, Wikimedia Commons

Ở miền núi phía Bắc, ảnh hưởng Đạo giáo còn rõ hơn. Người Dao có lễ cấp sắc – nghi lễ trưởng thành quan trọng của nam giới – với tranh thờ, sách cúng chữ Nôm Dao, trong đó có hình ảnh Tam Thanh, Ngọc Hoàng và nhiều thần tướng; giới nghiên cứu thường coi đây là một nhánh Đạo giáo đã "địa phương hoá" lâu đời. Người Tày, Nùng có các thầy Tào, thầy Pụt, bà Then; thực hành Then của người Tày, Nùng, Thái được UNESCO ghi danh năm 2019, trong đó có nhiều yếu tố giao thoa với Đạo giáo về thần linh và nghi thức.

Những ví dụ này cho thấy Đạo giáo ở Việt Nam không đứng riêng mà "sống" trong các tín ngưỡng khác, được mỗi cộng đồng tiếp nhận và biến đổi theo văn hoá của mình.

Đàn cúng dân gian Việt: giải hạn, cầu an, cầu siêu

Trong làng xã Việt, "lập đàn" là cách nói quen thuộc cho nhiều loại nghi lễ: đàn cầu an đầu năm, đàn giải hạn, đàn cầu siêu cho người mất, đàn cầu mưa thời xưa, đàn chẩn tế cô hồn rằm tháng Bảy. Người chủ lễ có thể là sư chùa, thầy cúng, thủ từ. Hình thức thường pha trộn: lời khấn mở bằng "Nam mô A Di Đà Phật", kính lạy Ngọc Hoàng, Nam Tào, Bắc Đẩu, rồi đến thần linh bản xứ và gia tiên.

Loại đàn dân gianMục đíchYếu tố Đạo giáo thường gặp
Đàn cầu an, dâng sao đầu nămCầu bình an, giải hạn saoCửu Diệu tinh quân, Nam Tào, Bắc Đẩu
Đàn chẩn tế rằm tháng BảyBố thí cô hồnTrung Nguyên, Địa Quan xá tội
Đàn cầu siêuSiêu độ vong linhHình thức trai đàn pha Phật – Đạo
Lễ tạ đất, động thổXin phép thổ thầnThổ địa, Hậu Thổ

Các bài văn khấn trên web Liên Hoa – văn khấn rằm tháng Giêng, rằm tháng Bảy, động thổ, tạ đất – hướng dẫn những nghi lễ ấy theo tinh thần giản dị, tâm thành. Nhóm Cúng Sao Giải Hạn trong cụm Trận Pháp Tâm Linh có các bài về bàn cúng sao, sơ đồ thắp nến, văn khấn cúng sao.

Góc nhìn Liên Hoa: trân trọng văn hoá, cảnh giác với dịch vụ "lập đàn"

Học thuật Phong Thuỷ Liên Hoa của Thầy Vũ Giới nhìn Đạo giáo ở Việt Nam như một phần di sản văn hoá – tín ngưỡng đáng trân trọng: đền Quán Thánh, đền Ngọc Sơn, điện thờ Mẫu, lễ cấp sắc, nghi lễ Then là kho tàng kiến trúc, mỹ thuật, âm nhạc và tri thức dân gian.

Đồng thời, Liên Hoa nhắc người đọc cảnh giác với những dịch vụ mang danh "lập đàn" để giải nghiệp, trấn yểm, bùa yêu, cắt duyên, "trục vong" với chi phí lớn kèm lời doạ dẫm. Những dịch vụ ấy không đại diện cho Đạo giáo, cũng không đại diện cho tín ngưỡng dân gian chân chính. Liên Hoa không hướng dẫn và không khuyến khích bùa chú, trấn yểm dưới mọi hình thức.

  • Đi lễ đền, quán, phủ: ăn mặc chỉnh tề, sắm lễ vừa phải, giữ trật tự, tôn trọng quy định của di tích.
  • Tìm hiểu lịch sử, kiến trúc, ý nghĩa thần linh trước khi đi để chuyến đi giàu giá trị văn hoá.
  • Với việc nhà, hãy để Hình Pháp đi trước: bố cục, ánh sáng, lối đi, an toàn – rồi mới đến nghi lễ như phần tâm linh hỗ trợ.

Ngắm pho tượng Trấn Vũ trầm mặc bên Hồ Tây hơn ba trăm năm, ta thấy một Đạo giáo rất Việt: không ồn ào phép thuật, mà lặng lẽ hoà vào cảnh quan, vào đời sống, vào tay nghề người thợ đúc đồng. Đó là gương mặt đáng giữ gìn nhất của Đạo giáo trên đất Việt.

Công cụ Liên Hoa dùng kèm bài này

Ảnh bìa: Jakub Hałun, CC BY 4.0, Wikimedia Commons.

Bài liên quan

Học bài bản cùng Thầy Vũ Giới

Muốn chọn ngày làm lễ, bố trí phòng thờ, bàn thờ và không gian tâm linh trong nhà theo Hình Pháp một cách bài bản, bạn có thể học cùng Thầy Vũ Giới:

Học phí và lịch khai giảng: liên hệ Thầy Vũ Giới qua Zalo 0988 964 636.

Câu hỏi thường gặp

Đạo giáo vào Việt Nam khi nào?

Từ thời Bắc thuộc; sách Lý hoặc luận của Mâu Tử ở Giao Chỉ cuối thời Hán đã bàn về Phật, Lão, Nho.

Đền Quán Thánh thờ ai?

Thờ Huyền Thiên Trấn Vũ (Chân Võ); tượng đồng đen đúc năm 1677, cao khoảng 3,96 m; đền trấn phương Bắc trong Thăng Long tứ trấn.

Đạo Mẫu có phải Đạo giáo không?

Không. Tín ngưỡng thờ Mẫu là tín ngưỡng bản địa (UNESCO 2016) nhưng mượn nhiều vị thần Đạo giáo như Ngọc Hoàng, Nam Tào, Bắc Đẩu.

Dân tộc nào có nghi lễ ảnh hưởng Đạo giáo rõ?

Người Dao (lễ cấp sắc, tranh thờ Tam Thanh), người Tày, Nùng (thầy Tào, Then – Then được UNESCO ghi danh 2019).

Làm sao tránh dịch vụ "lập đàn" mê tín?

Cảnh giác với nơi đòi chi phí lớn, doạ dẫm, hứa chắc chắn giải nghiệp, trấn yểm, bùa yêu; đi lễ ở di tích chính danh, sắm lễ vừa phải.

Từ khoá: Đạo giáo ở Việt Nam · đền Quán Thánh · Huyền Thiên Trấn Vũ · Đạo Mẫu · đàn cúng dân gian · tam giáo

Bài viết liên quan

Có thể quý vị quan tâm

Đi tiếp

Bài học thuật sâu hơn, vật phẩm nhắc trong bài, app liên quan và quà tặng.

Bình luận

để gửi bình luận.

  • Đang tải bình luận…