💻 Phần mềm phong thuỷ · Phong Thuỷ Liên HoaPhần mềm phong thuỷ Vũ Giới Hợp LuậnLa kinh số · Bảng luận · Tính năng · Kho kiến thức — dùng ngay trên trình duyệt💻 Mở phần mềm Hợp Luận

Thuỷ hệ Thăng Long: phong thủy Hồ Tây, Hồ Gươm, sông Tô Lịch

Thầy Vũ Giới — Phong Thuỷ Liên Hoa

Minh hoạ Thuỷ hệ Thăng Long: phong thủy Hồ Tây, Hồ Gươm, sông Tô Lịch

Nếu phải chọn một từ để nói về Thăng Long xưa, có lẽ đó là "nước". Kinh thành nằm giữa sông Hồng, sông Tô Lịch, sông Kim Ngưu, với Hồ Tây phía tây bắc và hàng trăm hồ ao, đầm trũng rải khắp. Tên gọi "Hà Nội" thời Nguyễn – nghĩa là "phía trong sông" – cũng đủ nói lên đặc điểm ấy. Ngày nay, dù nhiều hồ đã bị lấp, nhiều đoạn sông đã thành cống, cấu trúc nước ấy vẫn còn in dấu trên bản đồ thành phố: các tuyến đường cong theo bờ sông cũ, các hồ nhỏ nằm rải rác giữa khu dân cư.

Trong Hình Pháp Liên Hoa, nước không chỉ là "tài lộc" theo nghĩa mê tín. Nước là thứ định hình đất: nơi nào nước chia thì có mạch, nơi nào nước tụ thì có minh đường, nơi nào nước ra thì là thuỷ khẩu. Với một kinh thành đồng bằng, đọc thuỷ hệ gần như là đọc toàn bộ phong thuỷ của nó.

Đây là bài thứ tư trong chuỗi "Phong thuỷ Thăng Long". Bài mở đầu Thế đất Thăng Long đã nói về sông Hồng ở tầm vùng; bài này đi vào chi tiết: Hồ Tây, Hồ Gươm, sông Tô Lịch và cách các vòng thành nương theo nước.

Vòng nước tự nhiên: sông Hồng, Tô Lịch, Kim Ngưu

Các nhà nghiên cứu lịch sử đô thị Hà Nội thường mô tả kinh thành xưa nằm trong một "vòng nước" do ba con sông tạo thành: sông Hồng ở phía đông, sông Tô Lịch ở phía bắc và phía tây, sông Kim Ngưu ở phía nam. Hồ Tây nằm ở góc tây bắc, nối với hệ thống này. Vòng nước ấy gần như là ranh giới tự nhiên của vùng đất kinh thành.

Ảnh vệ tinh nội đô Hà Nội với Hồ Tây, sông Tô Lịch và sông Hồng – vòng nước tự nhiên của Thăng Long
Ảnh vệ tinh nội đô Hà Nội với Hồ Tây, sông Tô Lịch và sông Hồng – vòng nước tự nhiên của Thăng Long. Ảnh: Tôi Yêu Biển Đảo Quê Hương, nguồn ảnh vệ tinh, Attribution, Wikimedia Commons

Trong Hình Pháp, một khu đất được nước bao quanh mà nước không xói, không cắt, gọi là được "thuỷ bao". Đất được thuỷ bao thì khí không tản, giống như một hòn đảo được che chở. Cổ Loa – kinh đô thời An Dương Vương – cũng dùng sông và hào làm vòng bảo vệ, như đã phân tích trong bài Thành Cổ Loa: phong thủy kinh đô xoắn ốc. Thăng Long kế thừa nguyên lý ấy ở quy mô lớn hơn: không cần đào hào quanh toàn bộ kinh thành, vì sông đã làm hào sẵn.

Về thực tế, vòng nước ba sông mang lại ba lợi ích: giao thông đường thuỷ vào tận trong kinh thành; thoát nước mùa mưa; và phòng thủ. Đổi lại, nó cũng đặt ra thách thức: phải đắp đê, phải nạo vét, phải điều tiết nước giữa các mùa.

Sông Tô Lịch: dòng sông của kinh thành

Sông Tô Lịch là con sông gắn với Thăng Long lâu đời nhất. Xưa kia, sông nối với sông Hồng ở phía đông (khu vực phố cổ ngày nay), chảy vòng qua phía bắc, men theo phía tây kinh thành rồi xuôi về phía nam, nhập vào sông Nhuệ. Thần sông Tô Lịch được dân gian thờ phụng, và trong các truyền thuyết về thời Cao Biền, Tô Lịch giang thần cũng xuất hiện như một vị thần đất nước không chịu khuất phục.

Sông Tô Lịch hôm nay – dòng sông của kinh thành Thăng Long xưa
Sông Tô Lịch hôm nay – dòng sông của kinh thành Thăng Long xưa. Ảnh: Viethavvh at vi.wikipedia, phạm vi công cộng, Wikimedia Commons

Trong cấu trúc kinh thành, Tô Lịch có vai trò như một con hào tự nhiên ở phía tây và bắc. Các vòng thành ngoài của Thăng Long – mà người ta quen gọi chung là La Thành – được đắp men theo dòng Tô Lịch ở nhiều đoạn. Tuyến đường La Thành ngày nay vẫn mang tên vòng thành cũ, và có những đoạn chạy gần với dấu tích luỹ đất xưa.

Đọc Tô Lịch theo Hình Pháp

Một con sông nhỏ chảy vòng, uốn khúc quanh đất thành là kiểu "thuỷ hữu tình" – nước có tình với huyệt, ôm lấy chứ không bỏ đi. Hình Pháp rất coi trọng nước uốn khúc: nước chảy quanh co thì chậm, khí theo nước mà tụ; nước chảy thẳng thì nhanh, khí theo nước mà tán. Tô Lịch xưa uốn lượn nhiều, trở thành một "đai nước" mềm mại bao lấy kinh thành từ phía tây.

Ngày nay, sông Tô Lịch bị thu hẹp, đoạn nối với sông Hồng đã bị lấp từ lâu, phần còn lại chịu ô nhiễm nặng. Đây là một bài học đô thị lớn mà bài thứ năm của chuỗi sẽ quay lại: khi một dòng nước sống bị biến thành kênh thoát nước thải, không chỉ cảnh quan mà cả chất lượng sống của cả vùng bị ảnh hưởng – điều mà người xưa gọi là "thuỷ bại".

Hồ Tây: tụ thuỷ lớn phía tây bắc

Hồ Tây là hồ lớn nhất Hà Nội, xưa có những tên gọi như Dâm Đàm, Lãng Bạc. Giới địa chất thường giải thích hồ là một khúc sông Hồng cũ bị tách ra. Dân gian thì có truyền thuyết Trâu vàng: tương truyền khi ông Khổng Lồ đúc chiếc chuông lớn, tiếng chuông vang xa khiến con trâu vàng phương bắc tưởng tiếng mẹ gọi, chạy về tìm, giẫm sụt đất thành hồ – vì thế hồ còn được gọi là hồ Kim Ngưu. Lại có truyện về hồ ly chín đuôi bị đánh đuổi, hang cáo sụt thành hồ. Đó là những truyền thuyết đẹp, phản ánh cách người xưa giải thích một mặt nước lớn bất thường giữa đồng bằng.

Mặt nước Hồ Tây lúc chiều – nơi tụ thuỷ lớn phía tây bắc Thăng Long
Mặt nước Hồ Tây lúc chiều – nơi tụ thuỷ lớn phía tây bắc Thăng Long. Ảnh: Rungbachduong, CC BY-SA 3.0, Wikimedia Commons

Quanh hồ có nhiều di tích quan trọng: chùa Trấn Quốc trên bán đảo nhỏ, đền Quán Thánh ở góc đông nam (một trong "Thăng Long tứ trấn" – xem bài Thăng Long tứ trấn), phủ Tây Hồ, các làng nghề cổ ven hồ. Đường Thanh Niên ngày nay chạy trên con đê cũ chia Hồ Tây với hồ Trúc Bạch; tên Trúc Bạch tương truyền gắn với chuyện thời Lê trung hưng, khi chúa Trịnh cho lập cung bên hồ và nơi đây có nghề dệt lụa.

Hồ Tây trong cấu trúc phong thuỷ kinh thành

  • Tụ thuỷ: hồ lớn là nơi nước dừng lại, điều hoà khí hậu, làm mát mùa hè, giảm bớt gió lạnh mùa đông thổi vào thành.
  • Lớp bảo vệ phía tây bắc: phía tây bắc là hướng gió mùa đông bắc lệch tây và hướng địa hình cao; một mặt nước lớn ở đây vừa che chắn, vừa ngăn đường tiến quân.
  • Không gian thiêng: quanh hồ dày đặc chùa, đền, phủ – hồ trở thành "hậu viên" tinh thần của kinh thành.
  • Nguồn nước dự trữ: hồ nối với Tô Lịch, có thể điều tiết nước cho hệ thống sông hồ nội đô.

Hồ Gươm: hồ giữa phố, truyền thuyết và thực tế

Hồ Gươm (hồ Hoàn Kiếm) nằm ở phía đông nam Hoàng thành, giữa khu phố buôn bán. Xưa hồ có tên Lục Thuỷ (nước xanh), về sau có các tên Tả Vọng, Thuỷ Quân. Tên Hoàn Kiếm gắn với truyền thuyết vua Lê Lợi trả gươm cho rùa thần sau khi đánh thắng quân Minh – một truyền thuyết nổi tiếng, được kể trong nhiều sách và trở thành biểu tượng của Hà Nội.

Về thực tế lịch sử, Hồ Gươm xưa rộng hơn ngày nay và có thông với sông Hồng. Thời Lê trung hưng, hồ được dùng làm nơi duyệt thuỷ quân. Về sau, hồ bị chia tách và một phần bị lấp; tháp Rùa giữa hồ được xây cuối thế kỷ XIX; đền Ngọc Sơn và cầu Thê Húc ở góc bắc hồ là những công trình được nhiều đời sửa sang.

Đọc Hồ Gươm theo Hình Pháp

Hồ Gươm có thể đọc như một "minh đường thuỷ" của khu phố phía đông nam. Hồ nằm giữa khu dân cư dày đặc, tạo ra khoảng trống, ánh sáng và không khí. Trong Hình Pháp, một đô thị đông đúc cần có những "minh đường" như vậy để khí lưu thông – nếu không, phố phường sẽ ngột ngạt, tối tăm. Việc người Hà Nội đến nay vẫn coi Hồ Gươm là "trái tim" thành phố cho thấy giá trị thực của một mặt nước giữa phố: nó là nơi tụ họp, nơi thở, nơi định hướng.

Đê, hồ trũng và vòng thành: con người cải tạo thuỷ hệ

Thuỷ hệ Thăng Long không hoàn toàn tự nhiên. Qua nhiều thế kỷ, con người đã:

  1. Đắp đê sông Hồng từ thời Lý – Trần, nâng dần qua các triều đại, biến sông Hồng từ dòng sông tự do thành dòng sông được kiểm soát.
  2. Đắp thành theo sông: các vòng thành ngoài men theo Tô Lịch, Kim Ngưu và đê sông Hồng, dùng nước làm hào.
  3. Giữ các hồ trũng làm nơi chứa nước: hàng loạt hồ ao trong kinh thành xưa là nơi thu nước mưa, giảm ngập.
  4. Đào, nạo vét, nối kênh để thuyền bè vào thành và thoát nước.

Từ thời Pháp thuộc trở đi, nhiều hồ bị lấp để lấy đất xây dựng, nhiều đoạn sông bị cống hoá. Hệ quả là khả năng chứa nước tự nhiên của đô thị giảm đi rõ rệt – điều mà người Hà Nội cảm nhận được mỗi mùa mưa lớn. Đây là điểm mà phong thuỷ truyền thống và khoa học đô thị hiện đại gặp nhau: đô thị cần không gian cho nước.

Thành phần thuỷ hệVai trò xưaTên gọi theo Hình PhápTình trạng hôm nay (tổng quát)
Sông HồngGiao thông, phù sa, ranh giới phía đôngĐại thuỷ, thuỷ ôm phía thanh longVẫn là trục nước lớn; có đê bao
Sông Tô LịchHào tự nhiên phía bắc – tây, đường thuỷ nội đôThuỷ hữu tình, đai nước uốn khúcThu hẹp, một phần bị lấp, ô nhiễm
Sông Kim NgưuRanh giới, thoát nước phía namThuỷ phía chu tướcPhần lớn thành kênh thoát nước
Hồ TâyTụ thuỷ, điều hoà khí hậu, không gian thiêngTụ thuỷ phía tây bắcVẫn là mặt nước lớn nhất nội đô
Hồ GươmHồ giữa phố, nơi duyệt thuỷ quânMinh đường thuỷ của khu phốTrung tâm văn hoá, biểu tượng thành phố

Bài học về nước cho nhà ở và khu đất nhỏ

Từ thuỷ hệ Thăng Long, người làm nhà có thể rút ra những nguyên tắc rất thiết thực:

  • Nước quanh nhà phải "sống": ao, hồ, rãnh nước cần có nguồn vào, lối ra. Nước tù đọng sinh muỗi, mùi – Hình Pháp gọi là thuỷ bại.
  • Nước nên uốn, không nên đâm: lối thoát nước, kênh rạch, thậm chí con đường trước nhà nếu chạy thẳng vào cửa thì bất lợi; uốn lượn hoặc chạy ngang thì tốt hơn.
  • Chừa chỗ cho nước: sân thấm nước, bồn cây, hố ga đủ rộng giúp ngôi nhà không bị ngập – đó là "hồ trũng" thu nhỏ.
  • Không lấp ao, hồ tuỳ tiện: khi mua đất có ao, cần tính toán thoát nước cho cả khu trước khi san lấp.
  • Đặt hồ cá, bể nước theo hình thế trước, phương vị sau: nước nên ở phía trước, phía thấp, nơi thoáng sáng; đừng đặt bể nước lớn sát phòng ngủ hay sau lưng bàn thờ chỉ vì một công thức phương vị.

Muốn hiểu thêm về cách đọc nước như đọc rồng, xem bài Long mạch là gì: sơn long và thuỷ long.

Công cụ Liên Hoa dùng kèm bài này

Ảnh bìa: Vyacheslav Argenberg, CC BY 4.0, Wikimedia Commons.

Bài liên quan

Học bài bản cùng Thầy Vũ Giới

Đọc thế đất kinh thành là phần nâng cao của Hình Pháp. Nếu muốn học tầm long, điểm huyệt, đọc sa – thuỷ – minh đường trên thực địa, bạn có thể tìm hiểu:

Tư vấn trực tiếp: Thầy Vũ Giới – Zalo 0988 964 636.

Câu hỏi thường gặp

Thăng Long xưa được bao bởi những con sông nào?

Theo mô tả phổ biến của giới nghiên cứu: sông Hồng phía đông, sông Tô Lịch phía bắc và tây, sông Kim Ngưu phía nam; Hồ Tây nằm ở góc tây bắc.

Hồ Tây hình thành thế nào?

Giới địa chất thường giải thích hồ là khúc sông Hồng cũ bị tách ra. Truyện Trâu vàng hay hồ ly chín đuôi là truyền thuyết dân gian.

Vì sao lấp hồ ao lại bất lợi theo phong thuỷ?

Hồ ao là nơi tụ thuỷ, chứa nước mưa, làm mát. Lấp đi thì đô thị mất minh đường nhỏ, dễ ngập và nóng – cả Hình Pháp lẫn khoa học đô thị đều thấy rõ.

Nhà có ao, hồ cá nên lưu ý gì?

Nước phải có nguồn vào, lối ra, không tù đọng; nên ở phía trước, phía thấp, nơi thoáng sáng; không đặt bể lớn sát phòng ngủ hay sau lưng bàn thờ.

Từ khoá: thuỷ hệ Thăng Long · Hồ Tây · Hồ Gươm · sông Tô Lịch · phong thủy Hà Nội · vòng thành Thăng Long

Bài viết liên quan

Có thể quý vị quan tâm

Đi tiếp

Bài học thuật sâu hơn, vật phẩm nhắc trong bài, app liên quan và quà tặng.

Bình luận

để gửi bình luận.

  • Đang tải bình luận…