💻 Phần mềm phong thuỷ · Phong Thuỷ Liên HoaPhần mềm phong thuỷ Vũ Giới Hợp LuậnLa kinh số · Bảng luận · Tính năng · Kho kiến thức — dùng ngay trên trình duyệt💻 Mở phần mềm Hợp Luận

Yên Tử – Đông Triều: long mạch và đất phát tích nhà Trần

Thầy Vũ Giới — Phong Thuỷ Liên Hoa

Minh hoạ Yên Tử – Đông Triều: long mạch và đất phát tích nhà Trần

Ở phía đông bắc đồng bằng sông Hồng, giữa Quảng Ninh và Hải Dương cũ, có một dãy núi không cao bằng Hoàng Liên, không nổi tiếng về độ hùng vĩ, nhưng lại đậm đặc lịch sử bậc nhất nước ta. Đó là dải núi Đông Triều – Yên Tử, nơi có chốn tu hành của vua Trần Nhân Tông, có khu lăng mộ các vua Trần, có Côn Sơn – Kiếp Bạc gắn với Trần Hưng Đạo và Nguyễn Trãi.

Vì sao một dải núi lại gom về mình nhiều dấu tích của một triều đại đến vậy? Phải chăng chỉ là tình cờ lịch sử, hay người xưa đã thấy ở đây một thế đất đặc biệt? Bài thứ năm của chuỗi Long mạch Việt Nam từ xa xưa đến hôm nay đọc dải núi này bằng Hình Pháp Liên Hoa, phân biệt rõ đâu là sử, đâu là truyền thuyết, và rút ra bài học về chọn đất cho lăng mộ, đền chùa.

Ở bài Tam Đảo – Ba Vì, ta đã thấy vòng tay trái (Thanh Long) của đồng bằng Bắc Bộ là cả hệ cánh cung Đông Bắc vòng về phía biển. Yên Tử – Đông Triều chính là đoạn cuối, đoạn "ôm" của vòng tay ấy.

Cánh cung Đông Triều trong hệ núi Đông Bắc

Sách địa lý phổ thông mô tả vùng núi Đông Bắc gồm nhiều cánh cung xoè ra như nan quạt, chụm đầu về phía Tam Đảo: cánh cung Sông Gâm, Ngân Sơn, Bắc Sơn và Đông Triều. Trong đó cánh cung Đông Triều là cánh cung nằm gần biển nhất, chạy theo hướng gần tây – đông, từ vùng Bắc Giang qua Đông Triều, Uông Bí đến vùng Quảng Ninh.

Bản đồ cổ vùng Đông Triều – cánh cung Đông Triều trong hệ núi Đông Bắc
Bản đồ cổ vùng Đông Triều – cánh cung Đông Triều trong hệ núi Đông Bắc. Ảnh: Schneider, F. H. (18..-18..?). Auteur du text, phạm vi công cộng, Wikimedia Commons

Với Hình Pháp, hình cánh cung có ý nghĩa đặc biệt. Núi cong là núi "có tình": mặt lõm của cung hướng về đâu thì ôm lấy vùng đó. Cánh cung Đông Triều có mặt lõm hướng về phía tây nam – tức là về phía đồng bằng sông Hồng và sông Thái Bình. Nói theo hình ảnh, đây là cánh tay trái của cả châu thổ, vươn ra phía đông rồi cong lại ôm vào.

Yên Tử là một trong những đỉnh cao của dải núi này. Từ đỉnh Yên Tử nhìn về phía nam là đồng bằng và các dòng sông thuộc hệ thống sông Thái Bình; nhìn về phía đông là vùng vịnh Hạ Long. Vị trí "đứng giữa núi và biển, quay mặt về đồng bằng" làm cho Yên Tử vừa có thế cao, vừa có tầm nhìn rộng.

Đất phát tích nhà Trần: phân biệt cho rõ

Lối đá dưới tán rừng thông Côn Sơn – vùng di tích gắn với nhà Trần
Lối đá dưới tán rừng thông Côn Sơn – vùng di tích gắn với nhà Trần. Ảnh: An Nguyễn Hải, CC BY-SA 3.0, Wikimedia Commons

Khi nói "Đông Triều là đất phát tích nhà Trần", cần phân biệt cho chính xác. Theo cách hiểu phổ biến trong sử sách, tổ tiên họ Trần gắn với vùng Tức Mặc (Nam Định), nơi sau này nhà Trần lập hành cung Thiên Trường. Còn vùng An Sinh thuộc Đông Triều là nơi đặt lăng mộ của nhiều vị vua Trần, đồng thời là thái ấp của dòng An Sinh vương. Vì vậy nhiều tài liệu gọi Đông Triều là "quê hương thứ hai" của nhà Trần – quê của lăng tẩm, của nơi tụ hội tổ tiên.

Ba cụm di tích chính gắn với nhà Trần trên dải núi này có thể tóm tắt như sau:

Cụm di tíchVị trí trên dải núiGắn với
Yên TửĐỉnh cao, sườn nam của cánh cungVua Trần Nhân Tông xuất gia, Thiền phái Trúc Lâm
An Sinh – Đông TriềuChân núi phía nam, giáp đồng bằngKhu lăng mộ các vua Trần, đền thờ
Côn Sơn – Kiếp BạcĐầu phía tây nam của dải núi, bên sông Lục ĐầuTrần Hưng Đạo (Kiếp Bạc), Nguyễn Trãi (Côn Sơn)

Điểm chung: cả ba đều nằm ở sườn nam của cánh cung, quay mặt về đồng bằng và sông nước, lưng tựa vào núi. Đây đúng là công thức cơ bản của Hình Pháp: toạ sơn, hướng thuỷ – lưng dựa núi, mặt nhìn nước.

Yên Tử: đường lên núi như đường mạch

Khu vực đỉnh núi Yên Tử – đường lên núi như đường mạch
Khu vực đỉnh núi Yên Tử – đường lên núi như đường mạch. Ảnh: Bùi Thụy Đào Nguyên, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons

Vua Trần Nhân Tông, sau khi nhường ngôi, đã lên Yên Tử tu hành và trở thành người khai sáng Thiền phái Trúc Lâm – một dòng thiền mang đậm tinh thần Việt. Từ đó Yên Tử trở thành trung tâm Phật giáo lớn, với hệ thống chùa, am, tháp trải từ chân núi lên đỉnh, mà trên đỉnh cao nhất là chùa Đồng.

Người hành hương Yên Tử thường nhận ra một điều thú vị: các chùa, am được đặt dọc theo đường sống núi, ở những chỗ núi hơi bằng lại, có khoảng đất rộng, có suối hoặc mạch nước gần. Nhìn theo Hình Pháp, đó chính là những chỗ mạch "dừng chân" trên đường đi lên – những đốt của long mạch. Người xưa không đặt chùa ở chỗ dốc đứng hay trên mỏm đá trơ trọi (trừ chùa Đồng ở đỉnh mang ý nghĩa biểu tượng), mà đặt ở chỗ có thế ngồi, có chỗ dựa, có tầm nhìn.

Đường lên Yên Tử vì thế cũng là một bài học tầm long sống động:

  • Chỗ dốc là đoạn mạch đang "đi" – khí chạy, không dừng.
  • Chỗ bằng có chùa am là đoạn mạch "nghỉ" – khí tụ, có thể dựng công trình.
  • Chỗ thắt (yên ngựa giữa hai đỉnh) là quá hiệp – nơi mạch thu nhỏ lại trước khi dựng đỉnh mới.

Người học có thể đọc thêm về nguyên lý này trong bài tầm long điểm huyệt nhập môn: long – sa – huyệt – thuỷ.

Lăng mộ nhà Trần ở An Sinh: đọc thế âm trạch

Khu di tích An Sinh nằm ở chân núi phía nam của dải Đông Triều, nơi núi hạ xuống gặp đồng bằng. Theo sử sách và tài liệu di tích, nhiều vua Trần được an táng ở vùng này. Ngày nay, khu di tích đã được trùng tu một phần, có đền thờ các vua Trần.

Nhìn theo Hình Pháp âm trạch, thế đất An Sinh có những đặc điểm đáng chú ý:

  1. Có chỗ dựa vững: phía sau là dãy núi chạy dài, cao dần về phía bắc – một hậu chẩm rộng.
  2. Mạch hạ thấp, mềm: núi đá cao phía sau thoát xác thành đồi đất thấp ở chân – điều kiện để kết huyệt âm trạch.
  3. Có minh đường rộng: phía trước là đồng bằng, ruộng, sông thuộc hệ thống sông Thái Bình – đáp ứng "huyệt cần minh đường".
  4. Tay long tay hổ: các nhánh núi tách ra từ dãy chính tạo thành vòng ôm hai bên những thung lũng nhỏ.

Cần nói rõ: bài này không khẳng định vị trí "huyệt" cụ thể của từng lăng, cũng không cho rằng sự hưng thịnh của nhà Trần là do mộ phần đặt đúng chỗ. Lịch sử một triều đại do rất nhiều yếu tố quyết định. Điều ta học được là cách người xưa chọn đất an táng ở tầm vùng: chân núi, sườn nam, có đồng bằng và sông nước phía trước. Bài lăng mộ đế vương và tầm long điểm huyệt phân tích những nguyên lý ấy qua lăng mộ các triều đại khác.

Côn Sơn – Kiếp Bạc và sông Lục Đầu

Ở đầu phía tây nam của dải núi, gần nơi nhiều dòng sông gặp nhau – vùng thường gọi là Lục Đầu Giang – là cụm di tích Côn Sơn – Kiếp Bạc. Kiếp Bạc gắn với Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn, người chỉ huy quân dân Đại Việt kháng chiến chống quân Nguyên Mông. Côn Sơn gắn với Nguyễn Trãi và trước đó là các thiền sư Trúc Lâm.

Về thế đất, Kiếp Bạc nằm ở chỗ núi đổ xuống gặp sông lớn – một vị trí vừa có núi che chở vừa kiểm soát được đường thuỷ. Trong chiến tranh, đó là thế "tiến thoái đều được"; trong phong thuỷ, đó là chỗ sơn long gặp thuỷ long, khí có chỗ dừng. Hội tụ nhiều dòng sông cũng là hình ảnh của "hợp khẩu" mà bài Sông Hồng – thuỷ long đã nói đến.

Đền Kiếp Bạc ngày nay là nơi hành hương lớn. Như mọi đền thờ danh nhân, người đến nên hiểu đây là nơi tưởng niệm, giáo dục truyền thống; Hình Pháp Liên Hoa không khuyến khích việc xin bùa, "trấn trạch" hay mua vật phẩm với kỳ vọng thay đổi vận số.

Bài học chọn đất từ dải Yên Tử – Đông Triều

Từ một dải núi giàu lịch sử, người học phong thuỷ hôm nay có thể rút ra những nguyên tắc rất thực tế:

  • Sườn núi quay về đồng bằng và nước là thế "toạ sơn hướng thuỷ" – ưu tiên cho công trình thờ tự, nghĩa trang dòng họ, nhà vườn.
  • Chọn chỗ mạch nghỉ – khoảng bằng trên sườn núi – thay vì chỗ dốc hay đỉnh trơ.
  • Không đặt công trình ở chỗ thắt yên ngựa: đó là đường gió, khí đi qua mà không dừng.
  • Âm trạch cần đất khô, chắc, thoát nước tốt, có chỗ dựa và minh đường – đúng như thế An Sinh. Thư viện mẫu lăng mộ Liên Hoa có nhiều mẫu phù hợp cho đất đồi.
  • Đọc hình trước, đo hướng sau: dùng la kinh và Lập Cục Pháp sau khi đã nhìn rõ thế núi.

Từ Yên Tử nhìn về biển: Thanh Long ôm ra Hạ Long

Đứng trên Yên Tử nhìn về phía đông, ta thấy cánh cung Đông Triều không dừng ở đất liền mà đâm ra tận biển, hoà vào hàng nghìn đảo đá vôi của vịnh Hạ Long và Bái Tử Long. Nhìn theo Hình Pháp, đó là hình ảnh của một Thanh Long rất dài: từ Tam Đảo vòng qua các cánh cung Đông Bắc, qua Yên Tử, rồi "thả" xuống biển thành vô số đảo nhỏ như vảy rồng. Tên gọi Hạ Long – rồng đáp xuống – với truyền thuyết rồng mẹ, rồng con xuống giúp dân đánh giặc, là một cách người xưa diễn đạt cảm nhận ấy bằng hình tượng.

Truyền thuyết Hạ Long dĩ nhiên là truyền thuyết. Nhưng nó cho thấy người Việt từ lâu đã nhìn các dãy núi, đảo đá như thân rồng, và coi vùng núi – biển Đông Bắc là một phần của "thân thể" long mạch đất nước. Hình Pháp Liên Hoa không cần chứng minh rồng có thật; điều ta học được là cách nhìn liên tục: núi trên đất liền và đảo ngoài biển là một mạch, đất liền và biển là một hệ.

Với cư dân ven biển Quảng Ninh, sự che chắn của các đảo ngoài vịnh có ý nghĩa rất thực tế: sóng gió từ biển khơi bị chặn bớt, tạo những vùng nước yên cho thuyền neo đậu, cho làng chài sinh sống. Đó chính là vai trò của "sa" và "án" ở tầm đại thế – những lớp che chắn giữa con người và sức mạnh của biển. Khi chọn đất làm nhà ven biển vùng này, nên xem khu đất có được đảo, núi che phía biển hay không, và tránh những mũi đất trống trải đón thẳng gió bão.

Công cụ Liên Hoa dùng kèm bài này

Bài liên quan

Ảnh bìa: Hanoifun, CC BY 4.0, Wikimedia Commons.

Học bài bản cùng Thầy Vũ Giới

Chọn đất âm trạch, nhận ra chỗ mạch nghỉ trên sườn núi, đọc minh đường và thuỷ khẩu là nội dung trọng tâm của các khoá học:

Tư vấn trực tiếp: Thầy Vũ Giới – Zalo 0988 964 636.

Câu hỏi thường gặp

Nhà Trần phát tích ở Đông Triều hay Nam Định?

Theo cách hiểu phổ biến, quê gốc họ Trần gắn với vùng Tức Mặc (Nam Định), nơi có hành cung Thiên Trường. Đông Triều là nơi đặt lăng mộ nhiều vua Trần, nên thường được gọi là quê hương thứ hai, đất tổ lăng tẩm của nhà Trần.

Vì sao chùa Yên Tử đặt dọc sống núi?

Các chùa, am đặt ở những đoạn núi bằng lại, có chỗ dựa, có nước và tầm nhìn – tương ứng với những chỗ mạch "nghỉ" theo Hình Pháp. Riêng chùa Đồng trên đỉnh mang ý nghĩa biểu tượng.

Thế đất lăng mộ An Sinh có gì đặc biệt?

Khu lăng mộ nằm ở chân núi phía nam, lưng tựa dãy núi dài, phía trước là đồng bằng và sông nước – công thức toạ sơn hướng thuỷ. Bài viết không khẳng định vị trí huyệt cụ thể của từng lăng.

Có nên lên Yên Tử để "xin long mạch"?

Không có nghi thức nào như vậy trong Hình Pháp Liên Hoa. Hành hương Yên Tử nên hiểu là tìm hiểu lịch sử, văn hoá Phật giáo và chiêm ngưỡng thế núi. Long mạch không thể "xin" hay "mang về".

Từ khoá: Yên Tử Đông Triều long mạch · phong thuỷ nhà Trần · lăng mộ nhà Trần An Sinh · Côn Sơn Kiếp Bạc

Bài viết liên quan

Có thể quý vị quan tâm

Đi tiếp

Khoá học liên quan, app áp dụng, bài học thuật cùng chủ đề và quà tài liệu.

Bình luận

để gửi bình luận.

  • Đang tải bình luận…