💻 Phần mềm phong thuỷ · Phong Thuỷ Liên HoaPhần mềm phong thuỷ Vũ Giới Hợp LuậnLa kinh số · Bảng luận · Tính năng · Kho kiến thức — dùng ngay trên trình duyệt💻 Mở phần mềm Hợp Luận

Bắc long và Bắc Kinh: Yên Sơn, Thái Hành, Tử Cấm Thành

Thầy Vũ Giới — Phong Thuỷ Liên Hoa

Minh hoạ Bắc long và Bắc Kinh: Yên Sơn, Thái Hành, Tử Cấm Thành

Trong mô hình ba đại long mạch Trung Hoa, Bắc long là mạch núi đi phía bắc Hoàng Hà và dừng lại ở vùng đồng bằng Hoa Bắc. Điểm kết nổi tiếng nhất của Bắc long là Bắc Kinh – kinh đô của các triều Nguyên, Minh, Thanh. Các nhà địa lý phong thuỷ đời sau thường dẫn Bắc Kinh làm ví dụ mẫu mực về thế "núi bao ba mặt, mở ra đồng bằng": phía bắc có Yên Sơn, phía tây có dư mạch Thái Hành, phía đông và nam là đồng bằng rộng mở về phía biển.

Bài này phân tích thế long mạch của Bắc Kinh theo ngôn ngữ Hình Pháp: tổ sơn, long hổ, minh đường, thuỷ; rồi đi vào hai công trình tiêu biểu là Tử Cấm Thành và Minh Thập Tam Lăng – một bên là dương trạch của hoàng đế, một bên là âm trạch. Bức tranh tổng thể về Côn Lôn và ba đại long có trong bài Côn Lôn – tổ sơn và ba đại long mạch Trung Hoa; khái niệm sơn long, thuỷ long có ở bài trụ Long mạch: sơn long là dãy núi, thuỷ long là dòng sông.

Như mọi bài trong chuyên mục Long Mạch, chúng tôi tách rõ ba lớp: dữ kiện địa lý – lịch sử phổ biến, cách đọc phong thuỷ, và truyền thuyết dân gian. Người học cần cả ba, nhưng không được trộn lẫn.

Thế núi Bắc Kinh: Yên Sơn che bắc, Thái Hành giữ tây

Về địa lý tự nhiên, Bắc Kinh nằm ở rìa tây bắc đồng bằng Hoa Bắc. Phía bắc và đông bắc là dãy Yên Sơn, phía tây là các núi thuộc hệ Thái Hành mà người Bắc Kinh quen gọi chung là Tây Sơn. Hai dãy núi gặp nhau ở góc tây bắc thành một vòng cung, ôm lấy vùng đất bằng mở về phía đông nam. Người xưa gọi thế đất này bằng những hình ảnh như "lưng tựa núi, mặt hướng đồng bằng".

Vách núi Thái Hành – phần thân của Bắc long phía tây Bắc Kinh
Vách núi Thái Hành – phần thân của Bắc long phía tây Bắc Kinh. Ảnh minh hoạ: Depositphotos #203038232

Đọc theo Hình Pháp, vòng núi Yên Sơn – Thái Hành đóng vai trò huyền vũ và hai cánh long hổ ở tầm vùng: che gió lạnh mùa đông thổi từ cao nguyên phía bắc, tạo một "lòng chảo" mở về phía nam và đông – hướng đón nắng và đón gió ấm. Đây cũng là lý do thực tế khiến vùng này thích hợp cho một kinh đô lớn: có núi làm lá chắn quân sự phía bắc, có đồng bằng rộng để nuôi dân, có đường ra biển và kênh đào nối xuống phương nam.

Trong các sách đời Minh – Thanh, Bắc Kinh thường được mô tả là nơi Bắc long dừng lại, với các lớp núi phía sau là tổ – tông của mạch. Mô tả cụ thể đường đi của mạch qua từng dãy núi giữa các tác giả không hoàn toàn giống nhau; người học nên nắm phương pháp đọc hơn là thuộc lòng tuyến mạch.

Thuỷ long của Bắc Kinh: sông, hồ và kênh đào

Không có nước thì long mạch không dừng. Bắc Kinh không nằm cạnh một con sông lớn như Trường An bên sông Vị hay Nam Kinh bên Trường Giang, nhưng có các hệ sông chảy từ núi phía tây bắc xuống đồng bằng, nổi bật là Vĩnh Định Hà ở phía tây nam và các dòng thuộc hệ Triều Bạch ở phía đông. Bên trong thành có hệ hồ nối tiếp nhau và kênh dẫn nước, đầu mối của Đại Vận Hà nối Bắc Kinh với phương nam.

Hào nước và góc lầu Tử Cấm Thành – thuỷ long trong kinh thành
Hào nước và góc lầu Tử Cấm Thành – thuỷ long trong kinh thành. Ảnh minh hoạ: Depositphotos #68477327

Theo cách đọc thuỷ pháp, nước chảy từ tây bắc về đông nam, đi qua phía trước kinh thành rồi thoát ra đồng bằng là thế "nước đi qua minh đường". Điều người xưa chú ý không phải sông lớn hay nhỏ, mà là nước có ôm hay xuyên, có đi quanh co hay chảy thẳng, và chỗ nước ra (thuỷ khẩu) có được khoá lại không. Cách đọc thuỷ long ở tầm sông lớn được trình bày ở bài Thuỷ long: Hoàng Hà, Trường Giang và cách đọc thuỷ khẩu.

Tử Cấm Thành: dựng một "huyệt" nhân tạo giữa đồng bằng

Tử Cấm Thành được xây dưới thời Minh Thành Tổ (niên hiệu Vĩnh Lạc), sau khi nhà Minh dời đô từ Nam Kinh lên Bắc Kinh, và hoàn thành vào đầu thế kỷ XV. Đây là cung điện của các hoàng đế Minh và Thanh. Điều thú vị với người học phong thuỷ là: giữa một vùng đất tương đối bằng, các nhà quy hoạch đã chủ động tạo thêm các yếu tố long – huyệt – sa – thuỷ cho cung điện.

Toàn cảnh Tử Cấm Thành toạ bắc hướng nam – phong thuỷ cung đình
Toàn cảnh Tử Cấm Thành toạ bắc hướng nam – phong thuỷ cung đình. Ảnh minh hoạ: Depositphotos #63330705

Cảnh Sơn – chẩm sơn nhân tạo phía bắc

Phía bắc Tử Cấm Thành là Cảnh Sơn (đời Minh còn gọi là Vạn Tuế Sơn), một ngọn đồi được đắp phần lớn bằng đất đào từ hào bao quanh cung thành. Về mặt phong thuỷ, Cảnh Sơn đóng vai trò chẩm sơn / huyền vũ – ngọn núi gối đầu phía sau, che bắc, làm chỗ dựa cho cả quần thể. Về mặt thực tế, đào hào lấy đất đắp núi vừa tạo hệ phòng thủ, vừa giải quyết khối đất thừa.

Kim Thuỷ Hà – nước ôm minh đường

Trong cung có dòng Nội Kim Thuỷ Hà chảy uốn cong trước Thái Hoà Môn, có cầu đá bắc qua. Dòng nước uốn hình cánh cung ôm về phía cung điện là hình ảnh mẫu của thế "thuỷ ôm như đai ngọc" trong thuỷ pháp. Bên ngoài Thiên An Môn cũng có Ngoại Kim Thuỷ Hà. Người xưa dẫn nước vào, uốn nước trước cung chính là để "giới thuỷ" – giữ khí lại trước chính điện.

Trục trung tâm bắc – nam

Các cung điện chính nằm trên một trục bắc – nam, chính điện quay mặt về phía nam. Đây là nguyên tắc "toạ bắc hướng nam" của kiến trúc cung đình Trung Hoa, phù hợp với khí hậu (đón nắng mùa đông, tránh gió bấc) và với quan niệm "thánh nhân nam diện nhi thính thiên hạ" – bậc quân vương ngồi quay mặt về nam để trị thiên hạ.

Bài học cho người học Hình Pháp: khi thiên nhiên không có đủ, con người có thể bổ sung – đắp gò làm chẩm, đào nước làm minh đường, trồng cây làm sa. Nhưng các yếu tố bổ sung phải đúng tỷ lệ với công trình và đúng hướng khí, không phải đặt vật phẩm để "trấn".

Minh Thập Tam Lăng: âm trạch trên Bắc long

Cách trung tâm Bắc Kinh về phía tây bắc, dưới chân Thiên Thọ Sơn thuộc khu Xương Bình, là quần thể lăng mộ của mười ba hoàng đế nhà Minh, gọi chung là Minh Thập Tam Lăng. Lăng đầu tiên là Trường Lăng của Minh Thành Tổ Vĩnh Lạc; các hoàng đế đời sau lần lượt táng quanh đó. Quần thể đã được UNESCO công nhận là di sản thế giới (thuộc nhóm lăng mộ hoàng gia Minh – Thanh).

Trường Lăng trong quần thể Minh Thập Tam Lăng tựa núi Thiên Thọ
Trường Lăng trong quần thể Minh Thập Tam Lăng tựa núi Thiên Thọ. Ảnh minh hoạ: Depositphotos #379112148

Theo ghi chép lưu truyền, việc chọn đất do các thầy địa lý được triều đình tuyển mời, trong đó tên Liêu Quân Khanh – người Giang Tây – thường được nhắc tới. Thế đất có thể đọc như sau:

  • Long: Thiên Thọ Sơn ở phía bắc làm chủ sơn, các lăng dựa lưng vào các nhánh núi của nó.
  • Long hổ: núi hai bên đông tây vòng lại, tạo thành một thung lũng hình lòng chảo.
  • Minh đường: đất bằng rộng trong lòng thung lũng, đủ chỗ cho thần đạo dài và các lăng phụ.
  • Thuỷ khẩu: phía nam thung lũng thu hẹp lại, có những gò núi nhỏ đứng hai bên như cửa khoá; người xưa xem đây là chỗ "khoá thuỷ khẩu", giữ khí cho cả khu lăng.
  • Thần đạo: con đường dài với cổng đá, bia, tượng đá dẫn từ cửa thung lũng vào lăng chính, như "nhập thủ" nhân tạo của cả quần thể.

Đọc kỹ hơn về cách các triều đại chọn đất lăng theo long – huyệt – sa – thuỷ, mời quý vị xem bài Lăng mộ đế vương và tầm long điểm huyệt.

Truyền thuyết quanh long mạch Bắc Kinh

Bắc Kinh có nhiều truyền thuyết dân gian gắn với long mạch. Nổi tiếng nhất là chuyện "thành Na Tra tám tay": tương truyền khi dựng thành, các nhà thiết kế (dân gian gán cho Lưu Bá Ôn và Diêu Quảng Hiếu) đã quy hoạch thành theo hình thân Na Tra, các cổng thành là đầu và tay chân, để trấn yểm rồng dữ gây lũ hạn. Đây là truyện kể dân gian; các tài liệu lịch sử về việc xây thành không ghi nhận một quy hoạch như vậy.

Một lớp truyền thuyết khác nói về "long mạch bị động" khi đào đất, lấp sông, mỗi lần triều đại suy vi lại có người đổ cho việc làm tổn thương long mạch. Theo cách nhìn của Phong Thuỷ Liên Hoa, những câu chuyện này phản ánh tâm lý muốn giải thích thịnh suy bằng địa lý; chúng có giá trị văn hoá, nhưng không thay thế được phân tích lịch sử về chính trị, kinh tế, quân sự. Chủ đề này được bàn kỹ ở bài Truyền thuyết chém long mạch.

Bài học Hình Pháp từ Bắc long cho nhà ở và mộ phần

Từ ví dụ Bắc Kinh, có thể rút ra những nguyên tắc dùng được cho một ngôi nhà, một khu đất mộ ở Việt Nam:

  1. Có chỗ dựa phía sau: núi, đồi, hay ở đô thị là khối nhà cao hơn, hàng cây dày. Không có thì có thể tạo – như Cảnh Sơn – bằng tường, cây, khối công trình phụ.
  2. Hai bên có ôm: long hổ không cần cao, nhưng phải che được gió lùa ngang.
  3. Phía trước mở và có nước hoặc khoảng sân tụ: minh đường vừa phải, nước (hay đường đi) uốn ôm chứ không đâm thẳng.
  4. Thuỷ khẩu được khoá: chỗ nước, đường thoát ra không mở toang; có cây, cổng, gò che bớt.
  5. Trục rõ ràng: lối vào dẫn khí vào nhà một cách có trật tự, không quẹo gãy lộn xộn.

Những điều này đều có thể quan sát bằng mắt và đo bằng la kinh. Phần đo hướng, quý vị có thể tham khảo bài cách đo hướng nhà bằng la kinh; phần đọc minh đường và án sơn có ở bài tầm long: minh đường, án sơn và triều sơn.

Tóm tắt thế long mạch Bắc long – Bắc Kinh

  • Sơn long: Bắc long đi phía bắc Hoàng Hà, đến Yên Sơn (bắc) và Thái Hành – Tây Sơn (tây) thì vòng lại ôm lấy đồng bằng.
  • Thuỷ long: các sông từ núi tây bắc chảy về đồng bằng, hệ hồ trong thành và Đại Vận Hà nối xuống phương nam.
  • Dương trạch: Tử Cấm Thành toạ bắc hướng nam, có Cảnh Sơn làm chẩm sơn nhân tạo, Kim Thuỷ Hà uốn ôm trước chính điện.
  • Âm trạch: Minh Thập Tam Lăng tựa Thiên Thọ Sơn, lòng chảo kín, thuỷ khẩu phía nam được khoá.
  • Truyền thuyết: thành Na Tra tám tay, long mạch bị động – đọc như văn hoá dân gian.

Điều đáng học nhất từ Bắc long không phải sự hùng vĩ của kinh đô, mà là cách người xưa bổ sung hình thế còn thiếu bằng những can thiệp hợp lý: đắp núi đúng chỗ, dẫn nước đúng hướng, đặt trục công trình theo ánh sáng và gió. Đó là tinh thần Hình Pháp áp dụng được cho cả một ngôi nhà nhỏ.

Công cụ Liên Hoa dùng kèm bài này

Bài liên quan

Học bài bản cùng Thầy Vũ Giới

Đọc thế long mạch của một kinh đô là bài tập tốt để rèn mắt Hình Pháp, nhưng áp dụng vào một mảnh đất thật cần người hướng dẫn trực tiếp. Tham khảo các khoá học của Phong Thuỷ Liên Hoa:

Liên hệ Thầy Vũ Giới: 0988 964 636 (TP.HCM). Danh sách khoá học: Giảng Đường Liên Hoa.

Câu hỏi thường gặp

Bắc Kinh nằm trên long mạch nào?

Theo mô hình ba đại long, Bắc Kinh là nơi kết của Bắc long – mạch núi đi phía bắc Hoàng Hà, với Yên Sơn che phía bắc và dư mạch Thái Hành giữ phía tây.

Cảnh Sơn có phải núi tự nhiên không?

Cảnh Sơn được đắp phần lớn bằng đất đào hào quanh Tử Cấm Thành thời Minh. Về phong thuỷ nó đóng vai trò chẩm sơn, che phía bắc cho cung điện.

Vì sao Minh Thập Tam Lăng được xem là đất tốt?

Vì có chủ sơn (Thiên Thọ Sơn) phía sau, núi hai bên ôm thành lòng chảo, minh đường rộng và thuỷ khẩu phía nam thu hẹp có gò núi khoá lại – đủ các yếu tố long, huyệt, sa, thuỷ theo Hình Pháp.

Truyện "thành Na Tra" của Bắc Kinh có thật không?

Đó là truyền thuyết dân gian. Tài liệu lịch sử về việc xây thành không ghi nhận quy hoạch theo hình Na Tra; nên đọc như một câu chuyện văn hoá.

Từ khoá: long mạch Bắc Kinh · Bắc long · Tử Cấm Thành phong thủy · Minh Thập Tam Lăng · tầm long điểm huyệt

Bài viết liên quan

Có thể quý vị quan tâm

Đi tiếp

Khoá học liên quan, app áp dụng, bài học thuật cùng chủ đề và quà tài liệu.

Bình luận

để gửi bình luận.

  • Đang tải bình luận…