💻 Phần mềm phong thuỷ · Phong Thuỷ Liên HoaPhần mềm phong thuỷ Vũ Giới Hợp LuậnLa kinh số · Bảng luận · Tính năng · Kho kiến thức — dùng ngay trên trình duyệt💻 Mở phần mềm Hợp Luận

Lục Hào: phép nạp giáp – gắn can chi vào sáu hào

Thầy Vũ Giới — Phong Thuỷ Liên Hoa

Minh hoạ Lục Hào: phép nạp giáp – gắn can chi vào sáu hào

Nạp giáp là bước biến quẻ sáu hào từ một hình tượng âm dương thành một "bảng can chi" có thể luận theo ngũ hành. Mỗi hào được gắn một thiên can và một địa chi; từ địa chi suy ra ngũ hành của hào; từ ngũ hành của hào so với ngũ hành của cung quẻ mà phân lục thân. Không có nạp giáp thì không có Lục Hào.

Đây là bài thứ hai trong loạt nhập môn Lục Hào của Phong Thuỷ Liên Hoa, sau bài lập quẻ. Bài trình bày bảng nạp giáp của tám quẻ đơn theo hệ thống phổ biến trong các sách Lục Hào, cách áp vào quẻ kép và quẻ biến, kèm ví dụ. Nội dung học thuật cần được Thầy Vũ Giới duyệt trước khi công bố.

Tham khảo thêm bài liên thành quẻ khí và phép nạp giáp trên vugioi.com.

Nguyên tắc chung của nạp giáp

  • Quẻ kép gồm nội quái (ba hào dưới: hào 1, 2, 3) và ngoại quái (ba hào trên: hào 4, 5, 6).
  • Mỗi quẻ đơn có một bộ can chi riêng khi ở vị trí nội quái và một bộ khi ở vị trí ngoại quái.
  • Can chi của hào chỉ phụ thuộc vào quẻ đơn và vị trí trong/ngoài, không phụ thuộc quẻ đơn kia ghép cùng.
  • Trong thực hành Lục Hào, địa chi của hào được dùng nhiều nhất vì quyết định ngũ hành và quan hệ với nhật thần, nguyệt kiến.
Rừng thông – Mộc khí, địa chi Dần Mão trong phép nạp giáp
Rừng thông – Mộc khí, địa chi Dần Mão trong phép nạp giáp. Ảnh minh hoạ: Pexels

Vì sao cần nạp giáp

Một quẻ sáu hào tự nó chỉ cho biết âm dương và hình tượng: trời, đất, sấm, gió, nước, lửa, núi, đầm. Hình tượng rất giàu ý nghĩa nhưng khó so sánh chi tiết với thời gian thực. Nạp giáp làm cầu nối: khi mỗi hào mang một địa chi, ta có thể đặt hào đó cạnh địa chi của tháng (nguyệt kiến) và của ngày (nhật thần) để xem nó được sinh hay bị khắc, được hợp hay bị xung. Nhờ vậy, cùng một quẻ nhưng gieo vào những thời điểm khác nhau sẽ được luận khác nhau.

Nạp giáp cũng là nền tảng để phân lục thân. Khi biết ngũ hành của từng hào và ngũ hành của cung quẻ, ta biết hào nào là Phụ mẫu, Huynh đệ, Tử tôn, Thê tài hay Quan quỷ. Từ đó mới chọn được dụng thần cho từng loại câu hỏi. Có thể nói, nạp giáp là bước chuyển từ "đọc hình tượng" sang "tính toán ngũ hành" trong Lục Hào.

Bảng thiên can nạp vào tám quẻ

Quẻ đơnNội quáiNgoại quái
CànGiápNhâm
KhônẤtQuý
ChấnCanhCanh
TốnTânTân
KhảmMậuMậu
LyKỷKỷ
CấnBínhBính
ĐoàiĐinhĐinh

Chỉ Càn và Khôn có can khác nhau giữa nội và ngoại, vì Càn – Khôn là cha mẹ, bao trùm cả đầu (Giáp, Ất) và cuối (Nhâm, Quý) của mười can.

Bảng địa chi nạp vào tám quẻ

Địa chi được ghi theo thứ tự từ hào dưới lên của mỗi quẻ đơn:

Quẻ đơnNội quái (hào 1 – 2 – 3)Ngoại quái (hào 4 – 5 – 6)
CànTý – Dần – ThìnNgọ – Thân – Tuất
KhảmDần – Thìn – NgọThân – Tuất – Tý
CấnThìn – Ngọ – ThânTuất – Tý – Dần
ChấnTý – Dần – ThìnNgọ – Thân – Tuất
TốnSửu – Hợi – DậuMùi – Tị – Mão
LyMão – Sửu – HợiDậu – Mùi – Tị
KhônMùi – Tị – MãoSửu – Hợi – Dậu
ĐoàiTị – Mão – SửuHợi – Dậu – Mùi

Quy luật để dễ nhớ

  • Bốn quẻ dương (Càn, Khảm, Cấn, Chấn): địa chi đi thuận, cách một chi (Tý → Dần → Thìn → Ngọ → Thân → Tuất). Càn và Chấn bắt đầu từ Tý; Khảm bắt đầu từ Dần; Cấn bắt đầu từ Thìn.
  • Bốn quẻ âm (Khôn, Tốn, Ly, Đoài): địa chi đi nghịch, cách một chi (Mùi → Tị → Mão → Sửu → Hợi → Dậu). Khôn bắt đầu từ Mùi; Tốn từ Sửu; Ly từ Mão; Đoài từ Tị.
Dòng suối – Thuỷ khí, địa chi Tý Hợi trong phép nạp giáp
Dòng suối – Thuỷ khí, địa chi Tý Hợi trong phép nạp giáp. Ảnh minh hoạ: Pexels

Ngũ hành của mười hai địa chi

Ngũ hànhĐịa chi
ThuỷTý, Hợi
MộcDần, Mão
HoảTị, Ngọ
KimThân, Dậu
ThổThìn, Tuất, Sửu, Mùi

Sau khi nạp địa chi, ghi ngũ hành bên cạnh mỗi hào. Đây là dữ liệu để phân lục thân ở bài tiếp theo.

Ví dụ nạp giáp cho một quẻ kép

Lấy quẻ Thiên Phong Cấu: ngoại quái Càn, nội quái Tốn.

HàoQuẻ đơnCan chiNgũ hành
Hào 6Càn (ngoại)Nhâm TuấtThổ
Hào 5Càn (ngoại)Nhâm ThânKim
Hào 4Càn (ngoại)Nhâm NgọHoả
Hào 3Tốn (nội)Tân DậuKim
Hào 2Tốn (nội)Tân HợiThuỷ
Hào 1Tốn (nội)Tân SửuThổ

Xem ý nghĩa quẻ tại bài quẻ Thiên Phong Cấu.

Ví dụ thứ hai: quẻ Thuỷ Hoả Ký Tế

Quẻ Ký Tế có ngoại quái Khảm, nội quái Ly. Áp bảng nạp giáp, đọc từ dưới lên:

  • Hào 1 (Ly nội): Kỷ Mão – Mộc.
  • Hào 2 (Ly nội): Kỷ Sửu – Thổ.
  • Hào 3 (Ly nội): Kỷ Hợi – Thuỷ.
  • Hào 4 (Khảm ngoại): Mậu Thân – Kim.
  • Hào 5 (Khảm ngoại): Mậu Tuất – Thổ.
  • Hào 6 (Khảm ngoại): Mậu Tý – Thuỷ.

Nhận xét: trong quẻ này có hai hào Thuỷ (Hợi, Tý), hai hào Thổ (Sửu, Tuất), một hào Mộc (Mão), một hào Kim (Thân), không có hào Hoả. Khi một ngũ hành không xuất hiện trong quẻ, các sách Lục Hào có phép tìm "phục thần" ở quẻ thuần của cung – đây là nội dung nâng cao, sẽ được trình bày khi Thầy duyệt phần học thuật tiếp theo.

So sánh với ví dụ Thiên Phong Cấu ở trên, người học sẽ thấy: cùng một phương pháp, mỗi quẻ cho ra một phân bố ngũ hành khác nhau, và chính phân bố này quyết định cách luận về sau. Xem ý nghĩa quẻ tại quẻ Thuỷ Hoả Ký Tế.

Nạp giáp cho quẻ biến

Khi có hào động, hào đó biến thành âm dương ngược lại, có thể làm quẻ đơn chứa nó đổi thành quẻ khác. Hào biến được nạp can chi theo quẻ đơn mới, ở đúng vị trí đó. Ví dụ: nếu hào 1 của Cấu (Tốn nội) động, Tốn biến thành Càn; hào 1 biến được nạp theo Càn nội quái là Giáp Tý (Thuỷ). Người luận sẽ xét quan hệ giữa hào động (Tân Sửu, Thổ) và hào biến (Giáp Tý, Thuỷ).

Sương sớm trên rừng – thời khí theo nguyệt kiến, nhật thần
Sương sớm trên rừng – thời khí theo nguyệt kiến, nhật thần. Ảnh minh hoạ: Pexels

Những lỗi thường gặp khi nạp giáp

  • Ghi hào từ trên xuống: nạp giáp luôn đếm từ hào 1 (dưới cùng). Ghi ngược sẽ đảo toàn bộ địa chi.
  • Dùng bộ nội cho ngoại quái: đặc biệt với Càn, Khôn – nội và ngoại có can, chi khác nhau.
  • Nạp hào biến theo quẻ cũ: hào biến phải nạp theo quẻ đơn mới sau khi biến.
  • Nhầm ngũ hành của Thìn, Tuất, Sửu, Mùi: cả bốn chi này đều thuộc Thổ.
  • Bỏ qua thiên can: trong luận cơ bản địa chi quan trọng hơn, nhưng nên ghi đủ can chi để dùng ở các bước nâng cao.

Cách hạn chế lỗi là tự lập một bảng nạp giáp in sẵn, mỗi lần ghi quẻ đặt bên cạnh để đối chiếu, cho đến khi thuộc.

Bài tập tự luyện

  1. Nạp giáp cho tám quẻ thuần (Thuần Càn, Thuần Khôn, Thuần Chấn …): mỗi quẻ dùng bộ nội và ngoại của chính nó.
  2. Nạp giáp cho các quẻ: Thuỷ Hoả Ký Tế, Hoả Thuỷ Vị Tế, Địa Thiên Thái, Thiên Địa Bĩ.
  3. Ghi ngũ hành cho từng hào, kiểm tra lại bằng bảng.
  4. Chọn một hào bất kỳ làm hào động, xác định quẻ đơn mới và can chi hào biến.

Làm đủ các bài tập này, người học sẽ thuộc bảng nạp giáp mà không cần tra.

Nạp giáp và lịch can chi

Sau khi nạp giáp, sáu hào của quẻ mang sáu địa chi. Ngày gieo quẻ cũng có can chi (nhật thần), tháng có địa chi (nguyệt kiến). Đặt các địa chi này cạnh nhau, người học bắt đầu thấy những quan hệ cơ bản: hào cùng hành với nguyệt kiến thì được thời; hào bị nhật thần khắc thì giảm lực; hào gặp địa chi xung với nhật thần thì bị động. Những quan hệ này sẽ được dùng đầy đủ ở bài dụng thần.

Vì thế, người học Lục Hào nên tập song song hai kỹ năng: thuộc bảng nạp giáp và tra lịch can chi. Tháng trong Lục Hào tính theo tiết khí, không theo ngày mùng một âm lịch; ví dụ tháng Dần bắt đầu từ tiết Lập Xuân. Đây là điểm người mới hay nhầm. Bài lịch tiết khí, lịch âm học thuật trong mục Trạch Cát trên vugioi.com có thể giúp ôn lại phần này.

Tự lập bảng nạp giáp cá nhân

Một cách học hiệu quả là tự vẽ bảng nạp giáp trên một tấm thẻ: tám hàng cho tám quẻ đơn, mỗi hàng ghi can và ba chi nội, can và ba chi ngoại, kèm ngũ hành. Viết tay bảng này vài lần sẽ nhớ nhanh hơn đọc nhiều lần. Khi đã thuộc, thử nạp giáp cho một quẻ bất kỳ trong vòng một phút mà không nhìn bảng – đó là dấu hiệu đã sẵn sàng sang bước an thế ứng và lục thân.

Công cụ Liên Hoa dùng kèm bài này

Bài liên quan

Câu hỏi thường gặp

Nạp giáp là gì?

Là phép gắn thiên can và địa chi vào từng hào của quẻ, để từ đó xác định ngũ hành của hào và luận theo sinh khắc.

Vì sao Càn và Khôn có hai can khác nhau?

Càn nội Giáp ngoại Nhâm, Khôn nội Ất ngoại Quý; Càn – Khôn là cha mẹ của sáu quẻ còn lại, bao trùm đầu và cuối của mười can.

Can chi của hào có phụ thuộc quẻ đơn ghép cùng không?

Không. Chỉ phụ thuộc quẻ đơn chứa hào đó và vị trí nội hay ngoại.

Hào biến nạp giáp thế nào?

Theo quẻ đơn mới sau khi biến, ở đúng vị trí hào đó.

Học thuộc bảng nạp giáp mất bao lâu?

Nếu học theo quy luật quẻ dương đi thuận, quẻ âm đi nghịch, cách một chi, và mỗi ngày nạp giáp cho vài quẻ, phần lớn người học thuộc sau một đến hai tuần.

Có cần thuộc cả thiên can của hào không?

Trong luận cơ bản, địa chi và ngũ hành của hào được dùng nhiều nhất. Tuy vậy, nên ghi đủ thiên can để quen với cách trình bày truyền thống và để dùng khi học các phần nâng cao như lục thần, phục thần.

Nạp giáp có dùng trong phong thuỷ nhà ở không?

Phép nạp giáp có liên hệ với nhiều phần lý khí trong phong thuỷ. Bài liên thành quẻ khí và phép nạp giáp trên vugioi.com trình bày một hướng ứng dụng; người học nên đi từ Lục Hào cơ bản trước khi sang các ứng dụng đó.

Từ khoá: nạp giáp · nạp giáp lục hào · bảng nạp giáp · lục hào

Bài viết liên quan

Có thể quý vị quan tâm

Đi tiếp

Bài học thuật sâu hơn, vật phẩm nhắc trong bài, app liên quan và quà tặng.

Bình luận

để gửi bình luận.

  • Đang tải bình luận…