Thủy long là gì? Người học phong thuỷ quen với chữ "long" là núi: long mạch là mạch núi, tầm long là đi tìm núi. Nhưng ở đồng bằng, đất phẳng như mặt chiếu, đi cả ngày không thấy một ngọn đồi, thì long ở đâu? Người xưa trả lời: ở đất bằng, nước chính là long. Đó là thủy long.
Có bốn câu thơ cổ nói về thủy long rất gọn mà rất sâu. Bài này dịch bốn câu ấy, giải từng câu, rồi đem cái lý thủy long về áp dụng cho nhà ở đồng bằng, nhà ở phố, nơi phần đông chúng ta đang sống.
Bốn câu thơ về thủy long
Nguyên văn bốn câu:
Thủy long bản thị dị sơn long,
Hung giả mạc ngôn chung thị hung.
Hoà thuận bình dương xưng diệu cách,
Cao sơn tú tiếu sáp phù dung.
Dịch ý:
- Thủy long vốn khác với sơn long.
- Cái mà (theo phép sơn long) gọi là hung, đừng vội nói rằng (ở thủy long) cũng là hung.
- Đất bằng mà nước hoà thuận, đó là cách đẹp.
- (Còn) núi cao thanh tú thì như cắm hoa phù dung.
Bốn câu chia làm hai ý: hai câu đầu dặn đừng đem phép xem núi áp nguyên vào đất nước; hai câu sau so sánh cái đẹp của đất bằng và cái đẹp của núi cao, mỗi bên một vẻ.

Câu 1: "Thủy long vốn khác sơn long"
Sơn long là núi. Núi có thân, có đỉnh, có sống, có chân. Ta đọc sơn long bằng cách nhìn núi đi: khởi ở đâu, phục ở đâu, chuyển hướng ra sao, dừng lại ở đâu. Chỗ núi dừng, khí kết, đó là huyệt.
Thủy long là nước. Nước không có đỉnh, không có sống. Nước chỉ có dòng: đến từ đâu, uốn ra sao, tụ ở đâu, đi về đâu. Ta đọc thủy long bằng cách nhìn nước đi.
Ở vùng núi, núi là chủ, nước là khách: nước đi theo chân núi, ôm lấy núi. Ở đồng bằng, núi không có hoặc ở rất xa, nước thành chủ. Đất hơi cao hơn một chút, nước tránh; đất hơi thấp hơn một chút, nước tìm đến. Cái "cao hơn một chút" ấy chính là long của đất bằng. Người xưa có câu "cao một tấc là núi, thấp một tấc là nước", nói đúng cái tinh tế này.
Cho nên muốn đọc đất đồng bằng, phải đổi con mắt. Không đi tìm núi, mà đi tìm nước: nước đến, nước ôm, nước tụ, nước đi.
Câu 2: "Cái hung đừng vội nói là hung"
Câu này là lời cảnh tỉnh cho người học phong thuỷ máy móc.
Trong phép xem sơn long có nhiều điều kiêng: đất không có núi dựa là thiếu chỗ tựa, đất trống trải bốn bề là khí tán, đất thấp trũng là âm thấp. Đem mấy điều kiêng ấy áp vào đồng bằng thì đồng bằng chỗ nào cũng "hung" cả: không núi, trống trải, thấp.
Nhưng đồng bằng lại là nơi sinh ra những vùng trù phú nhất, đông người nhất, nhiều làng xóm thịnh vượng nhất. Vậy thì cái "hung" của sơn long, đặt vào thủy long, chưa chắc đã là hung. Ở đồng bằng, chỗ dựa không phải núi mà là dải đất cao hơn, là bờ sông bồi, là luỹ tre, là xóm làng phía sau. Khí tụ không nhờ núi vây mà nhờ nước ôm.
Thầy Vũ Giới giảng: "Không môn nào sai, chỉ đặt sai chỗ."
Đây là bài học về phương pháp. Phép tắc nào cũng có phạm vi của nó. Lấy phép của núi đi xét đồng bằng, lấy phép của đồng bằng đi xét núi, đều sai. Người học phải biết mình đang đứng trên loại đất nào, rồi mới chọn con mắt nào để nhìn.
Câu 3: "Đất bằng hoà thuận là cách đẹp"
Đất bằng đẹp là đất bằng mà nước hoà thuận. Hoà thuận nghĩa là sao? Có mấy dấu hiệu:
- Nước đến quanh co: không xộc thẳng, mà uốn khúc, đến chậm, đến có tình.
- Nước ôm vào: khúc cong hướng vào chỗ mình ở, như vòng tay ôm, không quay lưng cắt vào.
- Nước tụ trước mặt: có hồ, có đầm, có khúc sông rộng ra trước chỗ ở. Đó là minh đường của đất bằng.
- Nước đi kín đáo: chỗ nước thoát ra hẹp lại, có cây, có gò, có cầu che. Không để nước chảy tuột thẳng đi.
- Nước trong, chảy êm: không ứ đọng hôi thối, không chảy xiết ầm ầm.
Đủ năm điều ấy, đất bằng có thể đẹp chẳng kém gì đất núi. Ở đồng bằng, ta hay thấy những làng cổ nằm trong vòng tay một khúc sông, trước làng có ao, có đầm, cổng làng có cây đa che chỗ nước đi. Đó chính là cách đẹp của thủy long được người xưa vận dụng vào việc lập làng.

Câu 4: "Núi cao thanh tú như cắm hoa phù dung"
Câu cuối quay sang núi, như để cân bằng: đất bằng có cái đẹp hoà thuận của nước, còn núi cao có cái đẹp thanh tú như cành hoa phù dung cắm lên trời.
Ý của bốn câu không phải là đất bằng hơn núi, hay núi hơn đất bằng. Mà là mỗi loại đất có một chuẩn đẹp riêng. Núi đẹp ở chỗ thanh, tú, cao, rõ. Đất bằng đẹp ở chỗ hoà, thuận, ôm, tụ. Đem chuẩn đẹp của núi đi chấm đất bằng thì đất bằng trượt hết, đem chuẩn của đất bằng đi chấm núi thì núi cũng trượt hết.
Đây là cái lý âm dương. Núi là dương: cao, động về thế, nhô lên. Nước là âm: thấp, mềm, trũng xuống. Nhất âm nhất dương chi vị đạo. Có âm có dương mới thành cục. Vùng núi thì núi là chủ, nước phụ; vùng đồng bằng thì nước là chủ, đất cao phụ. Chủ khách đổi chỗ, nhưng âm dương vẫn phải đủ.
Thủy long trong phố: đường đi là sông
Phần đông chúng ta không sống bên sông, mà sống trong phố. Phố thì làm gì có thủy long? Có, và rất rõ.
Ở đô thị, đường đi chính là sông. Dòng xe, dòng người chảy trên đường như nước chảy trên sông. Đường lớn là sông lớn, hẻm nhỏ là lạch nhỏ. Ngã ba, ngã tư là chỗ hợp lưu. Khúc cua là khúc sông uốn. Quảng trường, công viên là hồ, là minh đường.
Vậy cái lý thủy long áp vào nhà phố thế nào?
- Nhà phía trong khúc cua đường: được đường ôm, như đất được sông ôm. Đây là thế hữu tình.
- Nhà phía ngoài khúc cua: đường như lưỡi liềm cắt vào. Cần xem kỹ, có cách xử lý theo Hình Pháp.
- Nhà cuối đường đâm thẳng: như nước xộc thẳng, là xung.
- Nhà trước có quảng trường, công viên: như có hồ tụ nước trước mặt, minh đường rộng.
- Nhà nằm chỗ đường dốc chạy xuống: như nước chảy tuột, khí khó dừng.
Cũng như câu thơ đã dặn: đừng đem phép của nhà vườn, nhà núi áp nguyên vào nhà phố. Nhà phố không có núi sau lưng thì chỗ dựa là toà nhà cao hơn, là khối nhà liền kề chắc chắn. Nhà phố không có hồ thì minh đường là vỉa hè, khoảng lùi, khoảng sân trước.

Thủy long ở miền sông nước Việt Nam
Người Việt sống với thủy long từ ngàn đời mà không cần gọi tên. Ở châu thổ sông Hồng, làng xóm nằm trên những dải đất cao ven sông, sau lưng là đê, trước mặt là ruộng, giữa làng có ao. Ở miền Tây Nam Bộ, nhà cửa men theo kênh rạch, mặt nhà hướng ra sông, lưng tựa vườn cây.
Nhìn bằng con mắt thủy long, các bạn sẽ thấy cách lập làng ấy rất có lý:
- Dải đất cao ven sông là long của đất bằng, chỗ khí đi, chỗ nước không ngập.
- Ao làng, đầm trước làng là minh đường, chỗ nước tụ, khí dừng.
- Luỹ tre, vườn cây sau nhà là chỗ dựa, chắn gió, giữ khí.
- Cây đa, cây gạo đầu làng, cuối làng thường đứng ngay chỗ nước đi, như cái khoá giữ khí lại.
Người xưa không cần la bàn mà vẫn lập được những ngôi làng sống yên hàng trăm năm. Đó là vì họ đọc đúng thế nước. Ngày nay san lấp ao hồ, bê tông hoá kênh rạch, nắn thẳng dòng chảy, là đang xoá đi thủy long của chính vùng đất mình ở. Muốn giữ khí cho một vùng, trước hết phải giữ nước.
Ba lỗi hay gặp khi xem đất đồng bằng
Lỗi thứ nhất: đi tìm núi ở nơi không có núi. Có người xem đất ở miền Tây, ở châu thổ, cứ hỏi "núi tựa ở đâu", rồi kết luận đất không có hậu. Đó là dùng sai con mắt. Ở đây phải hỏi: nước ở đâu, nước ôm thế nào, đất cao thấp ra sao.
Lỗi thứ hai: thấy nước là mừng. Nước có tình mới là tài. Nước đọng hôi thối, nước chảy xiết, nước xộc thẳng vào nhà, nước cắt ngang trước cửa, thì không phải tài. Thủy long phải hoà thuận.
Lỗi thứ ba: quên cái "cao một tấc". Ở đất bằng, chênh lệch cao thấp rất nhỏ nhưng quyết định khí đi. Nền nhà thấp hơn mặt đường là nước đổ vào, khí âm ẩm dồn vào. Nền nhà cao vừa phải, thoát nước tốt, là có "long" dưới chân. Người xem đất đồng bằng phải tinh mắt với từng chút chênh lệch.
Ba lỗi ấy đều cùng một gốc: không hiểu câu đầu "thủy long vốn khác sơn long". Hiểu được câu đầu, ba lỗi tự hết.
Đọc thủy long cho một mảnh đất: ba bước
Khi đứng trước một mảnh đất ở đồng bằng hay trong phố, các bạn có thể tập theo ba bước:
- Tìm nước đến: sông, kênh, đường lớn đến từ phía nào? Đến thẳng hay quanh co?
- Tìm nước ôm và nước tụ: khúc cong hướng về đâu? Trước mặt có chỗ rộng ra không (hồ, ao, quảng trường, sân)?
- Tìm nước đi: nước (hoặc đường) thoát đi phía nào? Chỗ đó có hẹp lại, có che chắn không?
Ba bước ấy chỉ là nhìn hình, chưa cần la bàn. Nhất hình nhì khí. Định cục là dựa vào hình, còn lý khí thì dựa vào số. Hình của đất bằng là hình của nước. Đọc được nước là đọc được nửa mảnh đất.
Còn đo đạc chỗ nào là thủy khẩu, định tâm ra sao cho đúng với thế nước, đó là thủ pháp, phải học trực tiếp trên thực địa.
Tóm lại: ở đất bằng, nước là long. Thủy long khác sơn long, đừng đem phép núi áp vào đất nước. Đất bằng mà nước hoà thuận là cách đẹp; núi cao mà thanh tú cũng là cách đẹp. Mỗi loại đất một chuẩn, biết đất mình đứng là đất gì rồi mới xem.
Hiểu vậy là đủ!
— Vũ Kim —
Công cụ Liên Hoa dùng kèm bài này
- Vẽ Mặt Bằng Liên Hoa 2D: vẽ nhà, đường, kênh rạch quanh nhà để thấy nước đến, nước đi.
- Lập Cục Pháp: định tâm, lập cục theo thế nước.
- La kinh Liên Hoa: đo sơn hướng sau khi đã đọc xong thế nước.
Bài liên quan
- Thủy long, thủy khẩu và thủy thành
- Thái Cực tỏa thủy: thế nước uốn khúc tụ khí
- Nhà ven hồ: đẹp mắt có tụ khí?
- Long – Huyệt – Sa – Thủy
Học bài bản cùng Thầy Vũ Giới
Muốn đọc được thủy long, thủy khẩu cho đất đồng bằng và nhà phố, hãy học Hình Pháp từ gốc. Xem các khoá học phong thuỷ Liên Hoa. Ghi danh, hỏi lịch khai giảng qua Zalo 0988 964 636 (Thầy Vũ Giới, TP.HCM).
Câu hỏi thường gặp
Thủy long là gì?
Thủy long là "long" của vùng đất bằng: ở nơi không có núi, dòng nước và chênh lệch cao thấp nhỏ của đất đóng vai trò dẫn khí, thay cho mạch núi.
Thủy long khác sơn long thế nào?
Sơn long đọc bằng núi: khởi, phục, chuyển, dừng. Thủy long đọc bằng nước: đến, ôm, tụ, đi. Phép tắc của mỗi bên không áp nguyên sang bên kia được.
Đất đồng bằng không có núi tựa có xấu không?
Không hẳn. Ở đất bằng, chỗ dựa là dải đất cao hơn, luỹ tre, xóm làng phía sau. Đất bằng mà nước hoà thuận là cách đẹp.
Nhà phố có thủy long không?
Có. Ở đô thị, đường đi là sông, ngã tư là hợp lưu, quảng trường là hồ. Nhà được đường ôm là thế tốt; nhà bị đường đâm thẳng hay cắt vào cần xem kỹ.
"Cao một tấc là núi, thấp một tấc là nước" nghĩa là gì?
Ở đất bằng, chênh lệch rất nhỏ cũng quyết định đường đi của nước và khí. Chỗ hơi cao là long, chỗ hơi thấp là nước. Nền nhà cao thấp ra sao rất quan trọng.









