💻 Phần mềm phong thuỷ · Phong Thuỷ Liên HoaPhần mềm phong thuỷ Vũ Giới Hợp LuậnLa kinh số · Bảng luận · Tính năng · Kho kiến thức — dùng ngay trên trình duyệt💻 Mở phần mềm Hợp Luận

Lam Kinh: phong thủy đất phát tích nhà Lê sơ

Thầy Vũ Giới — Phong Thuỷ Liên Hoa

Minh hoạ Lam Kinh: phong thủy đất phát tích nhà Lê sơ

Không phải kinh thành nào cũng là nơi đặt triều đình. Có những vùng đất được gọi là "kinh" vì đó là nơi một triều đại khởi nghiệp, nơi đặt lăng mộ tổ tiên và điện miếu thờ phụng. Lam Kinh ở Thọ Xuân, Thanh Hoá là một nơi như vậy: quê hương của Lê Lợi, căn cứ của khởi nghĩa Lam Sơn, rồi trở thành Tây Kinh – kinh đô thứ hai, nơi các vua Lê sơ về bái yết tổ tiên.

Đối với người học phong thuỷ, Lam Kinh có một vị trí đặc biệt. Đây là ví dụ tiêu biểu cho khái niệm đất phát tích: vùng đất được người đời sau tin rằng đã "phát" ra một triều đại. Dân gian xứ Thanh có rất nhiều giai thoại về huyệt đất, mồ mả họ Lê ở Lam Sơn. Những giai thoại ấy hấp dẫn, nhưng nếu chỉ dừng ở đó thì ta dễ trượt sang mê tín.

Bài viết này đọc Lam Kinh bằng Hình Pháp Liên Hoa: núi Dầu làm hậu chẩm, sông Chu làm thuỷ, các lớp đồi làm sa, và cách người xưa bố trí điện miếu – lăng tẩm trong một tổng thể. Đồng thời, bài cũng chỉ ra ranh giới giữa đọc hình thế và tin vào "đất phát vua".

Lam Kinh trong lịch sử: từ căn cứ khởi nghĩa đến Tây Kinh

Năm 1418, Lê Lợi dựng cờ khởi nghĩa ở Lam Sơn. Sau mười năm kháng chiến gian khổ chống quân Minh, cuộc khởi nghĩa thắng lợi; năm 1428, Lê Lợi lên ngôi ở Thăng Long, tức vua Lê Thái Tổ, mở ra triều Lê sơ. Ông vẫn giữ Thăng Long làm kinh đô chính, nhưng quê hương Lam Sơn được xây dựng thành Lam Kinh, còn gọi là Tây Kinh, với điện miếu, thái miếu và khu lăng tẩm.

Công trình tưởng niệm vua Lê Thái Tổ – người khởi nghiệp từ đất Lam Kinh
Công trình tưởng niệm vua Lê Thái Tổ – người khởi nghiệp từ đất Lam Kinh. Ảnh: Christophe95, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons

Sau khi Lê Thái Tổ mất, ông được an táng tại Lam Sơn, lăng gọi là Vĩnh Lăng. Nhiều vua và hoàng hậu thời Lê sơ về sau cũng được táng ở khu vực này. Lam Kinh vì thế vừa là "kinh" của người sống – nơi vua quan về tế lễ, nghỉ lại – vừa là "kinh" của tổ tiên. Trải qua chiến tranh và thời gian, nhiều công trình bị đổ nát; ngày nay khu di tích đã được khảo cổ và phục dựng một phần, trong đó có chính điện, thềm rồng đá và hệ thống lăng bia.

Lăng mộ ở Lam Kinh sẽ được phân tích riêng trong loạt bài về lăng mộ Việt Nam. Ở đây, ta tập trung vào thế đất tổng thể của Lam Kinh như một kinh thành phát tích.

Thế đất Lam Kinh: núi Dầu làm hậu chẩm, sông Chu làm thuỷ

Khu di tích Lam Kinh nằm ở vùng trung du phía tây Thanh Hoá, nơi đồi núi bắt đầu chuyển sang đồng bằng. Phía bắc có núi Dầu (Du Sơn) làm chỗ dựa; phía nam có sông Chu chảy qua. Đây là thế "tiền thuỷ hậu sơn" kinh điển: lưng tựa núi, mặt nhìn sông. Hai bên là những dải đồi thấp, rừng cây, đóng vai trò thanh long – bạch hổ.

Tượng đá voi, tê giác, ngựa từ lăng Lê Lợi – đất phát tích Lam Kinh
Tượng đá voi, tê giác, ngựa từ lăng Lê Lợi – đất phát tích Lam Kinh. Ảnh: Daderot, CC0, Wikimedia Commons

Theo Hình Pháp, long mạch của Lam Kinh đi từ những dãy núi phía tây – vùng giáp Lào – xuống. Long đi qua nhiều lớp đồi, mỗi lớp thấp dần, đến núi Dầu thì dừng lại như một bức bình phong. Từ núi Dầu, đất hạ dần xuống phía sông Chu, tạo thành một vùng đất dốc thoai thoải. Các công trình chính được bố trí trên vùng đất ấy, cao dần từ ngoài vào trong: lối vào ở thấp gần sông, chính điện ở cao hơn, khu lăng tẩm nằm trong vòng đồi phía sau và hai bên.

Bố cục theo bậc: đi lên để vào chốn thiêng

Một đặc điểm dễ thấy ở Lam Kinh là nền chính điện được đặt trên các lớp thềm cao dần, có bậc đá chạm rồng. Bố cục "càng vào trong càng cao" này phổ biến trong kiến trúc cung đình và đền miếu Á Đông. Nó vừa thuận theo địa hình tự nhiên dốc từ núi xuống sông, vừa tạo cảm giác trang nghiêm: người đến phải bước lên, chậm lại, cúi mình.

Trong Hình Pháp, điều này tương ứng với nguyên lý "hậu cao tiền đê" – phía sau cao, phía trước thấp. Nhà ở, đền miếu, nhà thờ họ có nền sau cao hơn nền trước thì nước thoát thuận, người ở thấy có chỗ dựa. Ngược lại, nhà "tiền cao hậu đê" – phía trước cao, phía sau trũng – thường bị ẩm, đọng nước phía sau và gây cảm giác chênh vênh.

Sa và thuỷ: sông Chu và những lớp đồi bao bọc

Sông Chu là chi lưu lớn của sông Mã, chảy từ vùng núi phía tây xuống đồng bằng Thanh Hoá. Đoạn chảy qua Lam Kinh, sông uốn ngang trước khu di tích. Theo Hình Pháp, sông chảy ngang trước mặt, cong ôm về phía công trình là thế nước tốt (gọi là "thuỷ bao" hay "ngọc đới thuỷ" – nước như dải đai ngọc). Sông ôm thì đất bồi, đất vững; sông phản cung – lưng sông đâm vào – thì đất lở.

Dòng sông Mã xứ Thanh, nơi sông Chu đổ về – thuỷ thế Lam Kinh
Dòng sông Mã xứ Thanh, nơi sông Chu đổ về – thuỷ thế Lam Kinh. Ảnh: Payasoaimar, CC BY-SA 3.0, Wikimedia Commons

Về sa, các dải đồi hai bên Lam Kinh khép lại thành vòng ôm, che chắn gió. Trong lòng vòng đồi, không khí tĩnh, cây cối tốt. Đây cũng là lý do khu vực này được chọn làm nơi đặt lăng tẩm: đất âm phần cần tàng phong tụ khí hơn đất dương cơ. Muốn hiểu kỹ hơn về các thế sa, có thể đọc bài Sa thủ và các thế sa cát hung.

Hồ, giếng và nước trong khu di tích

Ngoài sông Chu, khu Lam Kinh còn có hệ thống hồ, giếng, kênh nhỏ dẫn nước. Đây là cách kinh thành cổ "đưa thuỷ vào minh đường": tạo mặt nước tĩnh phía trước công trình chính để khí tụ, đồng thời phục vụ sinh hoạt và cảnh quan. Ta sẽ gặp lại cách làm này ở Hoàng thành Thăng Long với hồ và kênh Kim Thuỷ, và ở kinh thành Huế với hệ thống hồ, kênh Ngự Hà.

Đất phát tích và giai thoại địa lý: đọc thế nào cho tỉnh táo

Xứ Thanh lưu truyền nhiều giai thoại về huyệt mộ tổ tiên họ Lê ở Lam Sơn. Tương truyền, có thầy địa lý từ phương Bắc sang tìm huyệt đế vương ở vùng này, và gia đình họ Lê đã "nhanh chân" táng tổ tiên vào đúng huyệt ấy. Lại có truyền thuyết nổi tiếng về thanh gươm thần: Lê Thận kéo lưới được lưỡi gươm, Lê Lợi bắt được chuôi gươm trên cây đa, ghép lại vừa khít; sau khi thắng giặc, nhà vua trả gươm cho rùa thần ở hồ Tả Vọng, từ đó hồ mang tên Hồ Gươm.

Đây là những truyền thuyết, giai thoại – có giá trị văn hoá, thể hiện lòng tôn kính của dân gian với người anh hùng. Nhưng Hình Pháp Liên Hoa không dạy rằng "táng đúng huyệt thì con cháu làm vua". Lê Lợi thắng vì mười năm gian khổ, vì có Nguyễn Trãi, Lê Lai và biết bao nghĩa sĩ, vì "lấy đại nghĩa thắng hung tàn" như lời Bình Ngô đại cáo. Các bài Tả Ao – giai thoại địa lý và Lại Bố Y – truyền thuyết điểm huyệt trên vugioi.com cũng tiếp cận các giai thoại theo cách tương tự: trân trọng nhưng không thần thánh hoá.

Điều có thể học thật từ Lam Kinh là: người xưa chọn đất đặt mồ mả tổ tiên rất kỹ, ưu tiên nơi khô ráo, kín gió, không bị nước xói, có núi dựa và sông ôm. Đó là những tiêu chí hợp lý để giữ phần mộ bền lâu, và cũng tạo nên một không gian tưởng niệm trang nghiêm cho con cháu.

Bảng tóm tắt hình thế Lam Kinh

Yếu tốLam KinhGhi chú
LongTừ núi phía tây xuống, dừng ở núi DầuLong qua nhiều lớp đồi, khí hoà dần
Hậu chẩmNúi Dầu (Du Sơn)Chỗ dựa vững phía bắc
HuyệtKhu chính điện trên các lớp thềm cao dầnHậu cao tiền đê, thuận địa hình
SaCác dải đồi hai bên, rừng câyVòng ôm kín, hợp đặt lăng tẩm
ThuỷSông Chu phía trước, hồ giếng trong khuThuỷ ôm, có mặt nước tĩnh tụ khí
Vai tròĐất phát tích, Tây Kinh, nơi đặt lăng miếuKhông phải kinh đô hành chính chính

Ứng dụng cho nhà thờ họ và khu mộ gia tộc

Lam Kinh là mô hình thu nhỏ rất gần với việc xây nhà thờ họ và quy hoạch khu mộ gia tộc ngày nay:

  • Chọn nơi có chỗ dựa. Nhà thờ họ nên có khối cao phía sau – đồi, rặng cây, công trình – và khoảng sân thoáng phía trước.
  • Nền cao dần vào trong. Từ cổng đến sân, từ sân đến nhà chính nên có bậc cao dần, tạo sự trang nghiêm và thoát nước tốt.
  • Có mặt nước tĩnh phía trước. Một hồ nhỏ, ao bán nguyệt trước nhà thờ họ là thủ pháp phổ biến của kiến trúc truyền thống, giúp điều hoà vi khí hậu.
  • Khu mộ cần khô, kín gió, không bị nước xói. Đo đạc kích thước mộ theo thước Lỗ Ban 38,8 cm (âm phần) và tham khảo các mẫu trong thư viện lăng mộ.

Công cụ Liên Hoa dùng kèm bài này

Ảnh bìa: Khu di tích Lam Kinh, Thọ Xuân, Thanh Hoá – Bùi Lê Việt Cường, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons.

Bài liên quan

Học bài bản cùng Thầy Vũ Giới

Chọn đất nhà thờ họ, quy hoạch khu mộ gia tộc theo Hình Pháp là nội dung trọng tâm của các khoá học:

Tư vấn trực tiếp: Thầy Vũ Giới – Zalo 0988 964 636.

Câu hỏi thường gặp

Lam Kinh có phải là kinh đô không?

Lam Kinh (Tây Kinh) là kinh đô thứ hai, nơi phát tích của nhà Lê sơ, đặt điện miếu và lăng tẩm. Kinh đô hành chính chính của nhà Lê sơ vẫn là Thăng Long.

Lam Kinh nằm ở đâu?

Ở huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hoá, giữa núi Dầu phía bắc và sông Chu phía nam.

Có thật Lê Lợi làm vua nhờ mộ tổ táng đúng huyệt?

Đó là giai thoại dân gian. Theo Hình Pháp Liên Hoa, thắng lợi của Lê Lợi đến từ cuộc kháng chiến mười năm và sức mạnh của lòng dân. Hình thế đất chỉ là điều kiện, không quyết định số phận.

Thế "tiền thuỷ hậu sơn" là gì?

Là thế đất phía sau có núi hoặc khối cao làm chỗ dựa, phía trước có sông, hồ hoặc khoảng thoáng. Đây là thế được ưa chuộng cho cả nhà ở, nhà thờ họ và lăng mộ.

Có nên làm hồ trước nhà thờ họ?

Có thể, nếu đủ diện tích và giữ được nước sạch, lưu thông. Hồ bán nguyệt trước nhà thờ là thủ pháp truyền thống giúp điều hoà khí hậu và tạo cảnh quan trang nghiêm.

Từ khoá: phong thủy Lam Kinh · Lam Kinh · Lê Lợi · nhà Lê sơ · đất phát tích

Bài viết liên quan

Có thể quý vị quan tâm

Đi tiếp

Bài học thuật sâu hơn, vật phẩm nhắc trong bài, app liên quan và quà tặng.

Bình luận

để gửi bình luận.

  • Đang tải bình luận…