💻 Phần mềm phong thuỷ · Phong Thuỷ Liên HoaPhần mềm phong thuỷ Vũ Giới Hợp LuậnLa kinh số · Bảng luận · Tính năng · Kho kiến thức — dùng ngay trên trình duyệt💻 Mở phần mềm Hợp Luận

Lăng mộ nhà Trần ở An Sinh – Đông Triều: phong thủy dưới chân Yên Tử

Thầy Vũ Giới — Phong Thuỷ Liên Hoa

Minh hoạ Lăng mộ nhà Trần ở An Sinh – Đông Triều: phong thủy dưới chân Yên Tử

Ít người biết rằng dưới chân dãy núi Yên Tử – Đông Triều ở Quảng Ninh có cả một vùng lăng mộ các vua Trần. Khác với lăng Nguyễn ở Huế còn gần như nguyên vẹn, lăng Trần ở An Sinh phần lớn chỉ còn nền móng, bậc đá, vài pho tượng chầu, một số nằm giữa làng, một số nằm trên đảo nhỏ giữa hồ. Nhưng đây lại là nơi cho ta thấy rõ nhất mối quan hệ giữa lăng mộ và long mạch: lăng vua Trần được đặt ngay ở chân một dãy núi lớn, nơi mạch núi từ Yên Tử hạ xuống vùng đồi trước khi ra đồng bằng.

Khu lăng An Sinh cũng mang một câu chuyện rất hiện đại: một hồ thuỷ lợi được đắp trong thời gian gần đây đã làm ngập một phần khu lăng, có lăng bị đè dưới thân đập. Câu chuyện ấy là bài học sống động về việc can thiệp vào nước có thể làm thay đổi một cuộc đất như thế nào.

Bài thứ tám trong chuỗi "Phong thuỷ các lăng mộ Việt Nam nổi tiếng" sẽ đọc khu lăng mộ nhà Trần ở An Sinh theo Hình Pháp Liên Hoa: long từ Yên Tử, các gò huyệt, thuỷ – hồ Trại Lốc, và bài học cho mộ phần gia đình ở vùng đồi.

An Sinh – vùng đất gắn với họ Trần

Nhà Trần trị vì nước ta trong thế kỷ XIII – XIV, với ba lần kháng chiến chống quân Nguyên – Mông và sự ra đời của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử. Vùng An Sinh, nay thuộc Đông Triều, Quảng Ninh, là đất gắn bó mật thiết với dòng họ Trần. Trần Liễu – anh của vua Trần Thái Tông, cha của Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn – được phong tước An Sinh vương, gắn với tên vùng đất này.

Cổng vào đền An Sinh – khu lăng mộ nhà Trần ở Đông Triều
Cổng vào đền An Sinh – khu lăng mộ nhà Trần ở Đông Triều. Ảnh: Bùi Thế Tâm, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons

Nhà Trần có hai vùng lăng mộ chính: vùng Long Hưng (thuộc Thái Bình cũ), nơi có lăng các vua đầu triều, và vùng An Sinh – Đông Triều, nơi đặt lăng của nhiều vua đời sau. Theo các nghiên cứu và khảo sát, quanh đền An Sinh có lăng của nhiều vị vua Trần, trong đó được nhận diện rõ là Thái Lăng của vua Trần Anh Tông, Mục Lăng của vua Trần Minh Tông, An Lăng của vua Trần Hiến Tông. Trên núi Ngoạ Vân gần đó có tháp Phật hoàng gắn với vua Trần Nhân Tông.

Đền An Sinh, nơi thờ An Sinh vương và các vua Trần, là trung tâm của khu di tích. Toàn khu di tích nhà Trần ở Đông Triều đã được xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt; vùng Yên Tử rộng lớn xung quanh cũng là một phần của quần thể di sản được quốc tế ghi nhận gần đây.

Đọc long: mạch núi Yên Tử hạ xuống vùng đồi An Sinh

Dãy núi Yên Tử – Đông Triều là một cánh cung núi chạy theo hướng tây – đông ở phía bắc đồng bằng Bắc Bộ, ngăn cách vùng duyên hải Quảng Ninh với vùng đồng bằng Hải Dương. Từ những đỉnh cao như Yên Tử, núi hạ dần về phía nam thành các dải đồi thấp, rồi tới đồng bằng ven các sông lớn.

Sơ đồ khu di tích nhà Trần ở Đông Triều – lăng mộ nhà Trần phong thuỷ
Sơ đồ khu di tích nhà Trần ở Đông Triều – lăng mộ nhà Trần phong thuỷ. Ảnh: Bùi Thế Tâm, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons

Khu lăng An Sinh nằm ở đúng vùng chuyển tiếp này – sườn nam của dãy núi, nơi núi vừa hết dốc, đồi bắt đầu thoải. Theo Hình Pháp, đây là vị trí mà mạch long "thu khí": đi từ chỗ cao, thô, dốc xuống chỗ thấp, mịn, thoải. Các gò đồi nhỏ toả ra từ chân núi là những chỗ huyệt có thể kết. Lăng vua Trần được đặt trên các gò này, mỗi lăng một gò, giống cách đặt lăng Lê sơ ở Lam Kinh và lăng Gia Long ở Huế.

Bài long mạch là gì: sơn long và thuỷ long có nói tới khái niệm "tổ sơn – thiếu tổ – phụ mẫu sơn". Áp vào An Sinh: dãy núi Yên Tử là tổ sơn, các núi thấp hơn như Ngoạ Vân là thiếu tổ, và các đồi ngay sau lăng là phụ mẫu sơn – chỗ dựa trực tiếp cho huyệt.

Lăng trên gò, mặt hướng đồng bằng

Phần lớn lăng ở đây tựa lưng vào núi phía bắc, mặt nhìn về phía nam – phía đồng bằng và các dòng sông. Đây là hướng thuận theo thế đất: lưng tựa núi cao, mặt mở ra đồng bằng thấp. Trong trường hợp này, hướng "nam" phổ biến không phải là quy ước mà là kết quả tự nhiên của địa hình.

Thuỷ: khe suối xưa và hồ Trại Lốc hôm nay

Trong cuộc đất An Sinh xưa, thuỷ là các khe suối chảy từ núi xuống, len giữa các gò đồi, rồi đổ ra vùng đồng bằng phía nam. Theo lời kể dân gian, có những gò lăng nằm giữa hai bên suối – đúng kiểu "long đi giữa hai dòng nước" mà sách xưa coi là long có giới hạn rõ, khí không tản.

Núi Yên Tử – long mạch phía bắc khu lăng mộ nhà Trần
Núi Yên Tử – long mạch phía bắc khu lăng mộ nhà Trần. Ảnh: Bùi Thụy Đào Nguyên, phạm vi công cộng, Wikimedia Commons

Khoảng cuối thập niên 1970, một hồ thuỷ lợi – hồ Trại Lốc – được đắp ở khu vực này để phục vụ tưới tiêu. Hồ đã làm thay đổi căn bản cảnh quan: Thái Lăng của vua Trần Anh Tông nay nằm trên một hòn đảo giữa hồ; khu vực Mục Lăng của vua Trần Minh Tông bị thân đập đè lên, gần như không còn dấu vết trên mặt đất. Về sau, mực nước hồ được điều chỉnh hạ xuống để hạn chế ngập khu mộ.

Theo Hình Pháp Liên Hoa, đây là ví dụ điển hình của việc "thuỷ thay đổi làm cuộc đất thay đổi". Khe suối xưa là thuỷ nhỏ, chảy quanh, giữ cho gò khô và có giới hạn. Khi thành hồ lớn, nước dâng lên bao quanh gò, gò thành đảo, nền đất ẩm hơn, dễ xói lở hơn. Không cần bàn đến "khí", chỉ riêng chuyện kỹ thuật đã thấy: đặt một ngôi mộ cổ giữa hồ là đặt nó vào nguy cơ.

Thuỷ khẩu và minh đường

Minh đường của cuộc đất An Sinh là vùng đất thấp phía nam các gò lăng, mở ra đồng bằng. Thuỷ khẩu là nơi các khe suối hợp lại rồi đổ ra ngoài. Khi có đập và hồ, thuỷ khẩu tự nhiên bị chặn lại, nước dồn ngược vào cuộc đất – một sự đảo ngược hoàn toàn so với nguyên trạng.

Dấu tích lăng Trần: ít mà quý

So với lăng Nguyễn, dấu tích lăng Trần còn lại rất ít. Ở Thái Lăng còn bậc đá, đôi rồng đá và tượng sấu đá mang phong cách điêu khắc thời Trần, cùng một tấm bia dựng về sau thời Nguyễn để ghi nhận lăng. Ở An Lăng còn hai hàng tượng chầu, một số đã được ghép lại. Các đợt khảo cổ trong khoảng hai thập niên đầu thế kỷ XXI đã tìm thấy nền móng nhiều công trình kiến trúc quanh khu lăng.

Những dấu tích ấy cho thấy lăng Trần cũng có lối vào, có bậc cấp, có tượng chầu – tức là có ý niệm thần đạo, dù quy mô nhỏ. Lăng được đặt trên gò, có tường bao, có kiến trúc thờ tự liên quan. Điều đáng tiếc là chiến tranh, thời gian và những can thiệp hiện đại đã làm mất nhiều phần.

Tháp Phật hoàng trên núi Ngoạ Vân

Trên núi Ngoạ Vân (còn gọi là núi Bảo Đài), trước chùa Ngoạ Vân có tháp đá gắn với vua Trần Nhân Tông – vị vua sau khi nhường ngôi đã xuất gia, sáng lập Thiền phái Trúc Lâm. Tháp đặt trên núi cao, mang tinh thần Phật giáo hơn là tinh thần lăng tẩm cung đình. Đây là một ví dụ cho thấy "mộ phần" không nhất thiết phải là lăng to; nơi an nghỉ có thể là một ngọn tháp nhỏ trên núi, giữa thiên nhiên.

Giai thoại quanh lăng nhà Trần

Tương truyền, nhà Trần chọn vùng An Sinh vì đây là "đất tổ", có long mạch từ Yên Tử đổ về. Dân gian còn kể nhiều chuyện về các đồi quanh khu lăng với những cái tên dân dã, gắn với các truyện ma, truyện thiêng. Những câu chuyện này là một phần của văn hoá địa phương, nên được ghi nhận như ký ức dân gian, không nên coi là căn cứ để phán đoán phong thuỷ.

Một loại lời đồn khác cần cẩn thận là chuyện "nhà Trần mất ngôi vì lăng bị phá" hay "vì hồ ngập lăng mà…". Nhà Trần mất ngôi cuối thế kỷ XIV, hàng trăm năm trước khi có hồ Trại Lốc; nguyên nhân là khủng hoảng chính trị, xã hội cuối triều. Hồ ngập lăng là chuyện của thời hiện đại, ảnh hưởng tới di tích chứ không liên quan gì tới vận mệnh một triều đại đã qua.

Bài học cho mộ phần gia đình vùng đồi

  1. Tìm chỗ núi vừa hết dốc. Ở vùng đồi núi, vị trí tốt thường là chân dốc, nơi đất bắt đầu thoải, có gò nhỏ nổi lên – không phải đỉnh cao cũng không phải đáy trũng.
  2. Tìm hiểu quy hoạch thuỷ lợi trước khi đặt mộ. Hỏi chính quyền địa phương về hồ, đập, kênh mương dự kiến. Một ngôi mộ đẹp hôm nay có thể bị ngập nếu có hồ được đắp mai sau.
  3. Giữ khe suối tự nhiên. Khe nước nhỏ chảy quanh gò là thuỷ tốt; đừng chặn, lấp hay nắn thẳng chỉ để mở rộng khu mộ.
  4. Chống xói cho gò mộ. Trồng cỏ, cây giữ đất quanh gò; làm rãnh thoát nước vòng phía trên để nước mưa không chảy tràn qua mộ.
  5. Đơn giản mà bền. Đá, gạch nung tốt, móng chắc. Lăng Trần đã mất gần hết kiến trúc, nhưng những gì bằng đá trên gò cao vẫn còn.
  6. Kích thước theo thước âm phần. Mộ, bia, bàn thờ đo theo thước Lỗ Ban 38,8 cm; kiểm tra trên thước Lỗ Ban Liên Hoa.

Bạn có thể ghi lại hướng và độ dốc khu đất bằng la kinh web Liên Hoa, và tham khảo các phương án mộ trên đồi trong thư viện mẫu lăng mộ, khu mộ gia tộc.

Bài tiếp theo, chuỗi bài sẽ vào Nam, đến Lăng Ông Bà Chiểu ở TP.HCM – lăng Tả quân Lê Văn Duyệt, một ngôi lăng giữa vùng đất bằng không có núi, nơi phong thuỷ phải đọc theo cách hoàn toàn khác.

Công cụ Liên Hoa dùng kèm bài này

Ảnh bìa: Bùi Thế Tâm, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons.

Bài liên quan

Học bài bản cùng Thầy Vũ Giới

Đọc thế đất lăng mộ là phần cốt lõi của Hình Pháp âm trạch. Nếu muốn học tầm long, điểm huyệt, đọc sa – thuỷ – minh đường cho mộ phần gia đình trên thực địa, bạn có thể tìm hiểu:

Tư vấn trực tiếp: Thầy Vũ Giới – Zalo 0988 964 636.

Câu hỏi thường gặp

Ở An Sinh có những lăng vua Trần nào?

Được nhận diện rõ là Thái Lăng (vua Trần Anh Tông), Mục Lăng (vua Trần Minh Tông), An Lăng (vua Trần Hiến Tông); trên núi Ngoạ Vân có tháp gắn với vua Trần Nhân Tông.

Vì sao Thái Lăng nằm trên đảo giữa hồ?

Hồ thuỷ lợi Trại Lốc được đắp cuối thập niên 1970 làm nước dâng bao quanh gò lăng; một phần khu Mục Lăng còn bị thân đập đè lên.

Long mạch khu lăng An Sinh đến từ đâu?

Theo cách đọc Hình Pháp, từ dãy Yên Tử – Đông Triều hạ xuống sườn nam thành các gò đồi; lăng đặt trên các gò ấy, lưng tựa núi, mặt nhìn đồng bằng.

Đặt mộ vùng đồi cần lưu ý gì về nước?

Giữ khe suối tự nhiên, không chặn lấp; tìm hiểu quy hoạch hồ đập, kênh mương; làm rãnh thoát nước vòng phía trên và trồng cây chống xói.

Từ khoá: lăng mộ nhà Trần · An Sinh Đông Triều · Thái Lăng · đền An Sinh · hồ Trại Lốc · phong thủy lăng mộ

Bài viết liên quan

Có thể quý vị quan tâm

Đi tiếp

Bài học thuật sâu hơn, vật phẩm nhắc trong bài, app liên quan và quà tặng.

Bình luận

để gửi bình luận.

  • Đang tải bình luận…